ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN KHUẤT DUY TIẾN

Trung tướng / Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1, Nguyên Cục trưởng Cục Quân lực (Bộ Tổng Tham mưu), Nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3; Nguyên Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên; Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 · Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (được Đảng và Nhà nước phong tặng ngày 30/10/2013)

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

KHUẤT DUY TIẾN

THÔNG TIN TIỂU SỬ

Họ và tên: KHUẤT DUY TIẾN

Năm sinh – Năm mất: 1931 – 2024 (Đã mất)

Quê quán: Xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc TP. Hà Nội).

Cấp bậc, chức vụ: Trung tướng / Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1, Nguyên Cục trưởng Cục Quân lực (Bộ Tổng Tham mưu), Nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3; Nguyên Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên; Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Sư đoàn 320.

Danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (được Đảng và Nhà nước phong tặng ngày 30/10/2013).

QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG

Tham gia cách mạng và kiên trung trong lao tù (1946 – 1950): Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1946, tuyên truyền, diệt ác trừ gian tại địa phương; từng bị địch bắt, tra tấn dã man và giam cầm tại Sơn Tây, nhà tù Hỏa Lò nhưng vẫn giữ vững khí tiết cách mạng rồi vượt ngục tiếp tục hoạt động.

Nhập ngũ và tôi luyện qua hai cuộc kháng chiến: Chính thức tòng quân tháng 9/1950 tại Trung đoàn 48, Đại đoàn 320. Trưởng thành qua hàng trăm trận đánh từ chống Pháp (chiến đấu tại Đồng bằng Bắc Bộ) đến chống Mỹ (Trị Thiên, Đường 9 - Nam Lào, Tây Nguyên, Chiến dịch Hồ Chí Minh) và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Vị tướng dạn dày trận mạc, hết lòng vì sự nghiệp dựng nước và giữ nước: Hơn 10 năm giữ chức vụ chỉ huy Quân đoàn 3 bảo vệ biên giới phía Bắc và củng cố địa bàn Tây Nguyên; tiếp đó đảm nhiệm vị trí Cục trưởng Cục Quân lực và Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 trước khi về nghỉ hưu.

CÁC CHIẾN CÔNG TIÊU BIỂU

Tiêu diệt Lữ đoàn dù 3 ngụy tại Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971):

Trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Sư đoàn 320, đồng chí chỉ huy đơn vị giội hỏa lực, tiến công đánh tan lực lượng tinh nhuệ bậc nhất của địch.

Đơn vị do đồng chí chỉ huy đã xóa sổ Lữ đoàn dù 3, Tiểu đoàn 6 dù, Tiểu đoàn 3 dù, Tiểu đoàn pháo binh dù và bắt sống toàn bộ Ban chỉ huy Lữ đoàn dù 3 (trong đó có Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ).

Chiến đấu kiên cường tại mặt trận Đắk Tô - Tân Cảnh (1972):

Trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 64 tái đấu với Lữ đoàn dù 3 ngụy tại chiến trường Tây Nguyên, đập tan lời thách thức của đối phương.

Chỉ huy đơn vị vượt qua trận chiến vô cùng khốc liệt, giàu thương vong và hy sinh, góp phần đập tan tuyến phòng thủ chiến lược của địch ở Bắc Tây Nguyên.

Tác giả màn "Nghi binh chiến lược" xuất sắc trong Chiến dịch Tây Nguyên (1975):

Trên cương vị Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí trực tiếp soạn thảo bản kế hoạch nghi binh dài hơn 10 trang.

Kế hoạch đã hoàn toàn đánh lừa Bộ Tổng Tham mưu ngụy, khiến địch lầm tưởng ta tiến công Kon Tum - Gia Lai, tạo điều kiện cho quân ta bất ngờ giải phóng Buôn Ma Thuột, mở ra bước ngoặt thần tốc giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Tấm lòng tri ân sâu nặng với đồng đội:

Luôn đau đáu ký ức về những người đã nằm xuống, trân trọng từng giọt máu của đồng đội qua câu nói nổi tiếng: "Bố mẹ sinh ra tôi xương thịt chỉ còn 15% thôi. Còn 85% của các liệt sĩ. Anh em đã hy sinh cho mình sống".

KHEN THƯỞNG VÀ VINH DANH

Phần thưởng cao quý: Đồng chí được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (30/10/2013), Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng...

Giá trị lưu danh: Trung tướng Khuất Duy Tiến là một biểu tượng về nghệ thuật quân sự nghi binh mưu trí, bản lĩnh chỉ huy quyết đoán và tấm lòng nghĩa tình trọn vẹn với đồng đội. Tên tuổi của ông gắn liền với những mốc giải phóng lịch sử của Sư đoàn 320, Quân đoàn 3 và Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam.