Hiện vật · Tủ kính số 2
Súng tiểu liên MAT-49
kích thước:
74cm x 20cm (Dưới)
Súng trường MAS kích thước: 112cm x 11cm (Trên)
Hai khẩu súng của
thực dân Pháp do Sư đoàn ta thu được trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.
Hiện vật là súng trường kiểu 1936 của quân đội Pháp,
do đơn vị thu được trên chiến trường
đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đây là loại vũ khí do quân đội Pháp sử dụng trong nhiều chiến trường, trong đó
có chiến tranh ở Đông Dương.
Hiện vật là một
trong những chiến lợi phẩm phản ánh phương châm tác chiến của bộ đội ta trong
những năm đầu kháng chiến: “Vũ khí có
gì đánh nấy, lấy của địch đánh địch”.
Sau Chiến thắng
Biên giới năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang giai đoạn
mới. Đầu năm 1951, Đại đoàn Đồng Bằng
được thành lập, có nhiệm vụ xây dựng lực lượng chủ lực cơ động và hoạt động
trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.
Trong điều kiện
trang bị còn nhiều khó khăn, việc thu được vũ khí, trang bị của quân Pháp có ý
nghĩa quan trọng, góp phần bổ sung nguồn vũ khí cho bộ đội trong quá trình vừa
chiến đấu, vừa xây dựng và trưởng thành.
Trong quá trình
hoạt động trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, Đại đoàn đã tiến sâu vào vùng
địch tạm chiếm, phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích, xây dựng cơ
sở, phát triển chiến tranh du kích và đánh địch trên nhiều địa bàn thuộc Hà
Nam, Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình. Trong Chiến dịch Hòa Bình Đông - Xuân
1951-1952, Đại đoàn 320 là một trong các lực lượng hoạt động ở vùng sau lưng
địch, góp phần phân tán, tiêu hao sinh lực và phá thế bình định của quân Pháp ở
đồng bằng Bắc Bộ.
Trong những năm
tiếp theo, đơn vị tiếp tục chiến đấu, chống các cuộc hành quân càn quét của
quân Pháp, giữ vững và mở rộng khu căn cứ. Quá trình chiến đấu trên chiến
trường đồng bằng đã giúp đơn vị thu được nhiều vũ khí, trang bị của quân Pháp. Khẩu súng trường này là một hiện vật gắn với những
năm tháng chiến đấu ấy.
Khẩu súng là chứng tích trực tiếp của cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp, phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt trên chiến trường
đồng bằng Bắc Bộ và quá trình xây dựng, chiến đấu của Đại đoàn Đồng Bằng.
15 - 16. Mã tấu & thanh kiếm
Kích thước: Mã tấu 79cm x 8cm
Kích thước: Thanh kiếm 100cm
Hiện
vật gồm 3 chiếc mã tấu, thanh kiếm gắn với phong trào đấu tranh của
nhân dân trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp. Một chiếc là mã tấu của anh Phạm Văn Thân, ở An Đông, Duyên Hà,
Thái Bình, sử dụng trong hoạt động chống địch năm 1954; thanh kiếm là loại hung khí của lực lượng Tề,
Ngụy dùng để đàn áp nhân dân.
Những
năm cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt trong Đông – Xuân
1953–1954, chiến tranh du kích và phong trào đấu tranh của nhân dân ở vùng đồng
bằng Bắc Bộ phát triển mạnh. Bên cạnh các loại vũ khí hiện đại, nhiều lực lượng
và quần chúng nhân dân còn sử dụng những vũ khí thô sơ như mã tấu, giáo, mác để
tự vệ, chống càn và hỗ trợ lực lượng cách mạng.
Trong
khi đó, chính quyền và lực lượng tay sai của thực dân Pháp cũng sử dụng nhiều
biện pháp đàn áp nhằm duy trì hệ thống chiếm đóng ở vùng tạm chiếm. Năm 1954,
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết định. Trên các
chiến trường đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ, quân và dân ta đẩy mạnh hoạt động
quân sự, đấu tranh chính trị và chiến tranh du kích, phối hợp với chiến trường
chính Điện Biên Phủ, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó.
Trong
bối cảnh đó, những vũ khí thô sơ như mã tấu đã trở thành phương tiện tự vệ và
chiến đấu của một bộ phận nhân dân, du kích và lực lượng địa phương. Ba chiếc
mã tấu được lưu giữ tại Sư đoàn là những hiện vật gợi lại cuộc đấu tranh quyết
liệt giữa nhân dân với bộ máy chiếm đóng và tay sai tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.
17. Lưỡi thuổng
(của cụ Lê Văn Nhượng)
Kích
thước: 15cm x 6cm
Hiện vật là lưỡi thuổng của Lê Văn Nhượng, ở Duy Tiên, Hà Nam.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, cụ đã dùng thuổng để đào hầm bí mật, nuôi giấu thương binh và đấu tranh
chống địch. Năm 1953,
cụ bị địch sát hại.
Năm 1953, cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Tại Hà Nam, thực
dân Pháp và chính quyền tay sai tăng cường càn quét, khủng bố, phá hoại cơ sở
cách mạng. Nhân dân địa phương phải xây dựng các cơ sở bí mật, che giấu cán bộ,
bộ đội và thương binh.
Trong hoàn cảnh
đó, cụ Lê Văn Nhượng
đã sử dụng chiếc thuổng để đào hầm bí mật, nuôi giấu thương binh và tham gia
đấu tranh chống địch. Sự hy sinh của cụ là minh chứng cho tinh thần yêu nước,
sự che chở, đùm bọc của nhân dân đối với lực lượng kháng chiến trên chiến
trường đồng bằng Bắc Bộ.
Lưỡi thuổng là
hiện vật phản ánh sự đóng góp của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp. Từ một công cụ lao động quen thuộc, chiếc thuổng đã trở thành phương
tiện phục vụ hoạt động cách mạng, góp phần bảo vệ và nuôi giấu thương binh.
Kích
thước: 62cm x 15cm
Hiện vật là chiếc xẻng của pháo thủ thuộc Trung đội 1, Đại đội
3, Tiểu đoàn 834, được sử dụng để đắp ụ, xây dựng công sự và trận địa
pháo trong quá trình chiến đấu năm 1953 tại các địa bàn Yên Vỹ, Kinh Thanh, Hà Đông, Ý Yên và Nam Định.
Năm 1953, Đại đoàn
Đồng Bằng hoạt động trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, phối hợp với lực lượng
vũ trang và nhân dân địa phương tiến công, tiêu hao sinh lực địch. Trong điều
kiện chiến đấu cơ động, pháo binh phải nhanh chóng xây dựng trận địa, đắp ụ
công sự và tổ chức hỏa lực chi viện cho bộ binh.
Chiếc xẻng gắn với
hoạt động của các pháo thủ trong quá trình xây dựng công sự, trận địa pháo phục
vụ chiến đấu tại nhiều địa bàn thuộc đồng bằng Bắc Bộ.
Chiếc xẻng phản
ánh những công việc thầm lặng nhưng quan trọng của người pháo thủ trong chiến
đấu. Từ một công cụ lao động thông thường, hiện vật đã trở thành phương tiện
phục vụ xây dựng công sự, trận địa pháo, góp phần bảo đảm cho đơn vị hoàn thành
nhiệm vụ chiến đấu.
Năm 1951, Đại đoàn
Đồng Bằng hoạt động trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ. Tại làng Đống Lương, lực lượng thuộc Trung
đoàn 64 của Đại đoàn đã phối hợp với nhân dân địa phương xây dựng công sự, tổ
chức chiến đấu chống cuộc tiến công của quân Pháp.
Ngày 3/6/1951, quân Pháp sử dụng máy bay,
pháo binh và đại bác từ các cứ điểm xung quanh bắn dữ dội vào làng trước khi tổ
chức nhiều đợt tiến công. Quân và dân ta kiên cường chiến đấu, đánh lui các đợt
tấn công của địch; trận chiến gây nhiều tổn thất cho cả lực lượng chiến đấu và
nhân dân Đống Lương. Mảnh bom, đạn đại bác là dấu tích
trực tiếp của trận chiến Đống Lương năm 1951, phản ánh sự khốc liệt của cuộc
chiến và những hy sinh, mất mát của quân và dân địa phương.
Kích
thước: 27cm x 29cm x 11cm
Hiện
vật là máy đánh chữ thu được của địch, được Trung đoàn 52 sử dụng trong giai
đoạn 1954–1960. Đây là phương tiện phục vụ công tác hành chính, ghi chép, soạn
thảo văn bản và hoạt động của đơn vị.
Sau
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại đoàn Đồng Bằng cùng các
đơn vị bước vào thời kỳ tiếp quản, củng cố tổ chức và xây dựng lực lượng. Năm
1955, Trung đoàn 52 tham gia tiếp quản khu vực Kiến An và Hải Phòng trong đội
hình của Đại đoàn 320.
Trong
điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn, những phương tiện thu được của
địch tiếp tục được tận dụng phục vụ công tác của đơn vị. Chiếc máy đánh chữ
được Trung đoàn 52 sử dụng trong nhiều năm, gắn với hoạt động quản lý, chỉ huy
và xây dựng đơn vị trong giai đoạn 1954–1960.
Chiếc
máy đánh chữ phản ánh quá trình tận dụng phương tiện thu được sau chiến tranh
để phục vụ nhiệm vụ xây dựng, củng cố đơn vị.
Kích
thước: Dài 9cm
Hiện
vật là vỏ quả mìn của địch, được thu lại tại khu vực Tịnh Xuyên – Hưng Nhân,
Thái Bình. Quả mìn do địch cài đặt đã gây thương vong cho 4 người dân vào tháng
9 năm 1953.
Năm
1953, chiến trường Thái Bình vẫn diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa lực
lượng kháng chiến với quân Pháp và chính quyền tay sai. Khu vực Tịnh Xuyên và
các địa bàn lân cận từng là nơi xảy ra các cuộc càn quét, đàn áp và hoạt động
quân sự của địch; nhân dân địa phương phải vừa sản xuất, vừa tham gia bảo vệ cơ
sở kháng chiến.
Trong
bối cảnh đó, việc địch cài mìn tại khu vực dân cư đã gây nguy hiểm trực tiếp
cho nhân dân. Vụ nổ mìn tại Tịnh Xuyên tháng 9 năm 1953 là một trong những dấu
tích phản ánh sự khốc liệt của chiến tranh và những tổn thất mà nhân dân địa
phương phải gánh chịu.
Vỏ
quả mìn là dấu tích trực tiếp của hoạt động chiến tranh trên địa bàn Thái Bình
trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Hiện vật góp phần phản ánh những
mất mát, hy sinh của nhân dân địa phương trong cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương
và xây dựng, giữ vững cơ sở kháng chiến.
Kích thước: Dài 35cm
Hiện
vật là lưỡi lê của lính Lê dương Pháp, một bộ phận của vũ khí cá nhân, được sử
dụng trong chiến đấu. Lưỡi lê này đã được lính Lê dương Pháp dùng để sát hại
những người dân vô tội.
Binh
đoàn Lê dương Pháp (Légion étrangère) được thành lập năm 1831, là lực lượng gồm
những người nước ngoài tình nguyện phục vụ trong quân đội Pháp. Trong quá trình
mở rộng và duy trì hệ thống thuộc địa, lực lượng này được Pháp sử dụng tại
nhiều chiến trường, trong đó có Đông Dương.
Áp
dụng chiến thuật "đốt sạch, giết sạch, phá sạch", lính Lê dương đã
thực hiện nhiều cuộc tàn sát quy mô lớn tại các làng mạc ở Nam Bộ, Bình - Trị -
Thiên và Đồng bằng Bắc Bộ, sát hại nhiều người già, phụ nữ và trẻ em.
Tại các bốt canh
và trung tâm tra hống, lính Lê dương dùng nhiều thủ đoạn tàn khốc như chích
điện, dội nước xà phòng, treo ngược, kẹp móng tay hoặc đánh đập đến chết đối
với cán bộ cách mạng và người dân bị nghi ngờ liên quan đến Việt Minh. Đốt cháy làng mạc, cướp đoạt lương thực, trâu bò, tàn phá hoa màu. Tại các vùng chiếm đóng hoặc trong các đợt càn quét,
lính Lê dương gây ra nhiều vụ xâm hại dã man đối với phụ nữ địa phương, để lại
những tổn thương sâu sắc cho nhiều gia đình. Hiện vật trên là một trong tội
ác của bọn Lê Dương Pháp đã sử dụng với nhân dân, bộ đội ta lúc bấy giờ.
23. Tượng đồng
chí Văn Tiến Dũng
Kích
thước: 60cm x 55cm
Hiện
vật là tượng đồng chí Văn Tiến Dũng, do gia đình đồng chí tặng Sư đoàn 320 năm 2005.
Đồng chí Văn Tiến Dũng là một nhà lãnh đạo, chỉ huy quân sự xuất sắc của Quân
đội nhân dân Việt Nam, có nhiều năm gắn bó với Đại đoàn Đồng Bằng, tiền thân
của Sư đoàn 320 ngày nay.
Đầu
năm 1951, khi Đại đoàn Đồng Bằng được thành lập, đồng chí Văn Tiến Dũng mang
chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn. Trong những năm đầu xây dựng và chiến
đấu, đồng chí cùng Đảng ủy, Bộ Tư lệnh lãnh đạo đơn vị hoạt động trên chiến
trường đồng bằng Bắc Bộ, từng bước xây dựng lực lượng và trưởng thành trong
chiến đấu.
Tháng
11 năm 1953, đồng chí Văn Tiến Dũng được điều động giữ chức Tổng Tham mưu
trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách quan
trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Quân đội.
Bức
tượng thể hiện sự tri ân và ghi nhớ công lao của đồng chí Văn Tiến Dũng đối với
quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đại đoàn Đồng Bằng, tiền thân
của Sư đoàn 320 ngày nay.