TỔNG QUAN TỦ KÍNH VUÔNG SỐ 1

Hiện vật · Tủ kính số 12

TỦ KÍNH VUÔNG 1
FULL TỦ VUÔNG 1

138. Áo lụa

Kích thước: 70 cm x 50cm

Đây là chiếc áo lụa đỏ do nhân dân xã Kim Gưu, huyện Văn Giang, tỉnh Hải Hưng tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, Bác Hồ đã tặng lại chiếc áo cho đồng chí Phan Ngụ Trung đoàn 48 vào năm 1952

Năm 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Nhân dân cả nước hướng về kháng chiến, tích cực ủng hộ bộ đội và bày tỏ tình cảm sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chiếc áo lụa là món quà của nhân dân gửi tặng Bác; sau đó được Bác Hồ trao lại cho đồng chí Phan Ngụ, Trung đoàn 48, thể hiện sự quan tâm, tình cảm của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ đang trực tiếp chiến đấu.

Chiếc áo là hiện vật mang giá trị lịch sử và tinh thần sâu sắc, thể hiện tình cảm nhân dân đối với Bác Hồ, đồng thời là minh chứng cho sự quan tâm, yêu thương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 48 trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

 

139. Cờ thưởng (Ban Chấp Hành tỉnh đảng bộ Sơn Tây)

Kích thước: 1m x 1,4m

Đây là lá cờ do Bam Chấp hành tỉnh Đảng bộ Sơn Tây tặng, mang khẩu hiệu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, ngày 10/4/1965.

Lá cờ ra đời trong những ngày đầu năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn mới, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Hưởng ứng quyết tâm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Sơn Tây đã thể hiện ý chí kiên quyết đấu tranh, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Lá cờ là hiện vật thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm chống Mỹ cứu nước của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sơn Tây; đồng thời là tư liệu lịch sử phản ánh khí thế đấu tranh và quyết tâm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ.

 

140. Cờ thưởng (Đoàn Đồng bằng tặng)

Đang cập nhập...

 

141. Cờ thưởng (Ban Chấp Hành tỉnh Đảng bộ Hà Nam Ninh)

Kích thước: 120cm x 80cm

Ngày 24 tháng 4 năm 1951, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Quang Trung (tức chiến dịch Hà - Nam - Ninh), tại vùng Nam Liên khu 3 (Hà Nam - Nam Định - Ninh Bình), đây là nơi yếu nhất của địch ở đồng bằng Bắc Bộ, nhằm tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch, phá tan khối ngụy quân, tạo điều kiện phục hồi cơ sở, thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển, giành giật với địch nguồn cung cấp sức người, sức của ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 4 tháng 5, Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng ủy chiến dịch Quang Trung.

Ta đã xây dựng được thêm các khu du kích, căn cứ du kích; giúp nhân dân thu hoạch mùa màng, góp phần phá âm mưu càn quét, cướp bóc lúa gạo, phá mùa màng ở vùng trồng lúa trọng điểm. Tuy nhiên, lần đầu chiến dịch tiến công lớn tại vùng đồng bằng sau lưng địch, ta đã bộc lộ không ít nhược điểm làm hạn chế kết quả của chiến dịch. Ta đánh tiêu hao được một bộ phận quân địch, nhưng ta cũng bị thiệt hại nặng.

Sau nửa tháng chuyển hướng chiến dịch sang hoạt động nhỏ, ta đã đạt được một phần mục đích và do điều kiện để phát triển tiến công không còn nữa, ngày 20 tháng 6 năm 1951, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định kết thúc chiến dịch Quang Trung.

Đây là lá cờ tỉnh Hà Nam Ninh tặng Sư đoàn mang dòng chữ: “Chiến đấu giỏi – Lao động sáng tạo – Lập công xuất sắc”. Lá cờ là phần thưởng, sự ghi nhận và động viên của tỉnh Hà Nam Ninh đối với những thành tích của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

 

142. Cờ giải phóng

Kích thước: 70cm x 40cm

Để làm nên những chiến công chói lọi, góp phần xứng đáng vào chiến thắng huy hoàng ngày 30 tháng 4 năm 1975, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 - Đoàn Đồng Bằng đã đi qua một chặng đường chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ và chói lọi chiến công. Từ Tây Nguyên tới Phú Yên đến Sài Gòn, Sư đoàn dù trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn vẫn nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, luôn nêu cao tính kỷ luật trong quá trình tổ chức, chuẩn bị chiến đấu, tinh thần dũng cảm, khắc phục khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đối với lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị luôn sáng tạo, đề ra nhiều phương án cho các trận đánh, xử lý linh hoạt, hành động kiên quyết, chính xác, kịp thời; phát huy truyền thống chiến đấu vẻ vang và thể hiện nổi bật sức chiến đấu lớn, sức đột kích mạnh, tính cơ động cao, xứng đáng là một sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn đã tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch rút chạy của Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy tại Cheo Reo, Củng Sơn, tạo điều kiện chiến lược để Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước ngay trong năm 1975.

Đây là “Lá cờ giải phóng đã thấm máu của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn trong những năm đánh Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam”. Qua những trận chiến đấu, lá cờ đã thấm máu của cán bộ chiến sĩ, ghi dấu sự hy sinh trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

 

143. Huân chương quân công hạng Nhì

Kích thước: 45cm x 35cm

Ngày 16 tháng 3 năm 2001, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thay mặt Đảng và Nhà nước đã ký quyết định tặng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Sư đoàn 320 vì đã lập thành tích xuất sắc trong công tác và xây dựng đơn vị thời kỳ đổi mới 1990-2000, góp phần xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đây là sự ghi nhận và động viên to lớn của Đảng và Nhà nước đối với sự nỗ lực, cố gắng, là niềm tự hào của mỗi cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn, là động lực để Sư đoàn tiếp tục xây dựng đơn vị đạt được nhiều thắng lợi mới, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước và sự tin yêu của nhân dân.

 

144. Bằng Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân năm 1975

Kích thước: 40cm x 35cm

Giữa những ngày sôi động, phấn khởi làm nhiệm vụ trong không khí đất nước hòa bình, một tin vui lớn đến với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 đó là ngày 12 tháng 9 năm 1975, Sư đoàn 320 và Trung đoàn 48 được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì đã lập thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn. Trong bản tuyên dương công trạng của Sư đoàn 320 có ghi:

“Sư đoàn 320 bộ binh thuộc Quân đoàn 3: Sinh ra và lớn lên ở chiến trường Đồng Bằng, là một trong những sư đoàn có lịch sử truyền thống vẻ vang từ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, từ năm 1968 đến năm 1975, Sư đoàn đã tham gia nhiều chiến dịch lớn, dũng cảm, mưu trí, đánh giỏi, lập nhiều chiến công xuất sắc. Mùa Xuân năm 1975, Sư đoàn 320 đã nêu cao tinh thần tích cực tiến công, liên tục chiến đấu, hành quân thần tốc, kiên quyết truy kích, chia cắt, chặn đánh địch rút chạy, đột phá mãnh liệt, diệt nhiều địch, cùng các đơn vị bạn đập tan nhiều tuyến phòng thủ và đánh chiếm nhiều căn cứ quan trọng của địch, chiến thắng vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ...”.

Bản tuyên dương công trạng của Đảng và Nhà nước khiến cho cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Đồng Bằng biết bao tự hào, xúc động. Suốt 25 năm chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, vì dân và cho dân; cán bộ, chiến sĩ các thế hệ Sư đoàn 320 đã chiến đấu trên khắp mọi miền đất nước, đánh thắng nhiều đơn vị quân viễn chinh Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Ngày 16 tháng 1 năm 1976, nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Sư đoàn (16.1.1951-16.1.1976), tại căn cứ Đồng Dù (Củ Chi), Sư đoàn 320 đã tổ chức trọng thể lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ nhất.

 

145. Bằng Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân năm 1979

Kích thước: 40cm x 35cm

Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, một vinh dự to lớn đến với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn, ngày 20 tháng 12 năm 1979, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Tôn Đức Thắng đã ký quyết định tuyên dương danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Sư đoàn 320 cùng 4 đơn vị trực thuộc Sư đoàn. Bản tuyên dương công trạng nêu rõ:

“Sư đoàn 320 thuộc Quân đoàn 3 đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong công cuộc chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống bọn xâm lược mới ở biên giới Tây Nam nước ta...”.

Lời khen ngợi của Đảng và Nhà nước là nguồn động lực vô cùng to lớn thúc đẩy phong trào thi đua quyết thắng, biến nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Sư đoàn lần thứ IX thành hiện thực; đồng thời đây cũng là món quà tinh thần vô giá gửi tới gia đình, người thân của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn cùng bao liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trên mặt trận biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Cam-pu-chia.

Ngày 22 tháng 12 năm 1979, tại Đại Từ, Bắc Thái, Sư đoàn đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ 2.

 

146. Huân chương quân công giải phóng hạng Nhất

Kích thước: 40cm x 35cm

Để làm nên những chiến công chói lọi, góp phần xứng đáng vào chiến thắng huy hoàng ngày 30 tháng 4 năm 1975, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 - Đoàn Đồng Bằng đã đi qua một chặng đường chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ và chói lọi chiến công. Từ Tây Nguyên tới Phú Yên đến Sài Gòn, Sư đoàn dù trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn vẫn nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, luôn nêu cao tính kỷ luật trong quá trình tổ chức, chuẩn bị chiến đấu, tinh thần dũng cảm, khắc phục khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đối với lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị luôn sáng tạo, đề ra nhiều phương án cho các trận đánh, xử lý linh hoạt, hành động kiên quyết, chính xác, kịp thời; phát huy truyền thống chiến đấu vẻ vang và thể hiện nổi bật sức chiến đấu lớn, sức đột kích mạnh, tính cơ động cao, xứng đáng là một sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn đã tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch rút chạy của Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy tại Cheo Reo, Củng Sơn, tạo điều kiện chiến lược để Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước ngay trong năm 1975.

Đánh giá cao những thành tích và cống hiến hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320, Quốc hội, Chính phủ đã tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhất cho Sư đoàn 320.

 

147. Huân chương quân công giải phóng hạng Ba

Kích thước: 40cm x 35cm

Sau khi hoàn thành xuất sắc trong chiến trường Quãng Trị, Sư đoàn được lệnh cơ động đến chiến trường Tây Nguyên. Với quyết tâm “Đi sâu, đi lâu, đi đến ngày hoàn toàn thắng lợi”. Sau 2 tháng hành quân, ngày 28/1/1972, Sư đoàn đã có mặt tại khu tập kết tại chiến trường Tây Nguyên.

3/1972, Sư đoàn tham gia cuộc tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn trên chiến trường Tây Nguyên trong chiến dịch Xuân – hè năm 1972.

Trong chiến dịch này, Sư đoàn được giao nhiệm vụ “Tấn công địch ở bờ Tây sông Pô Kô, mở màn chiến dịch, kéo quân chủ lực Quân đoàn 2 đánh 1 đến 2 trận then chốt nhằm tiêu hao sinh lực địch, quyết không cho địch co cụm, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tấn công và giải phóng Đăk Tô – Tân Cảnh”.

Chính vì vậy, ngày 30/3/1973, Sư đoàn sử dụng lực lượng Trung đoàn 52 tấn công Tiểu đoàn dù 2 tại điểm cao 1049. Nhưng do chưa lường trước được sự tương quan lực lượng, lực lượng địch quá đông có thêm sự chi viện của pháo binh và không quân nên Trung đoàn chưa làm chủ được điểm cao này, nên Trung đoàn rút về củng cố lực lượng. Đến ngày 21/4/1973, Trung đoàn đã tiêu diệt được Tiểu đoàn dù 2, giải phóng điểm cao lân cận, tiêu diệt 190 tên, bắn rơi 12 máy bay.

Cùng lúc đó 12-14/4/1973, Trung đoàn 64 với sự chỉ huy của đồng chí Khuất Duy Tiến đã tham gia tấn công Tiểu đoàn dù 11, Lữ đoàn dù 3 tại điểm cao 1015. Mở màn trận đánh, ta sử dụng hỏa lực tấn công sở chỉ huy Tiểu đoàn dù 11, sau đó bộ binh chủ động đánh chiếm các mục tiêu, quân địch đánh trả quyết liệt. Ngay hôm sau, chúng sử dụng máy bay oanh tạc vào đội hình của ta, nhưng với cách đánh sáng tạo, mưu trí và anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 sau 3 ngày ta đã xóa sổ sạch Tiểu đoàn dù 11, loại bỏ 350 tên địch, tiêu diệt 20 máy bay.

Chiến thắng ở 2 điểm cao 1049 và 1015 đã hoàn thành trận đánh mở màn, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị bạn giải phóng được vùng Đăk Tô – Tân Cảnh.

Sau 68 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, Sư đoàn đã cùng đơn vị bạn đập tan tuyến phòng thủ ở phía Tây sông Pô Kô làm chủ được vùng Đăk Tô – Tân Cảnh và vòng ngoài thị xã KomTum, thay đổi hoàn toàn cục diện trên chiến trường Tây Nguyên.

Với những chiến công oanh liệt trong chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn Đồng Bằng được vinh dự gắn lên quân kỳ của mình Huân chương Quân công hạng Ba do Quốc hội và Chính phủ tặng.