TỔNG QUAN TỦ KÍNH SỐ 7

Hiện vật · Tủ kính số 7

TỦ KÍNH 7
FULL TỦ KÍNH 7

79 - 80 - 81. Quân phục của lính Ngụy

Áo Ngụy: 70x48cm

Mũ nhựa Ngụy: Đường kính 22cm, cao 17cm

Ngày 13 tháng 4 năm 1975, thể theo nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhất trí đề nghị Bộ Chính trị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Quân đoàn 3 được giao nhiệm vụ tấn công 1 trong 5 hướng tiến công chủ yếu là hướng Tây Bắc Sài Gòn, 2 trong 5 mục tiêu quan trọng là Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng tham mưu Ngụy. Dùng lực lượng cỡ sư đoàn đến sư đoàn tăng cường đánh tiêu diệt căn cứ Sư đoàn 25 ngụy ở Đồng Dù, chặn và tiêu diệt lực lượng Sư đoàn 25 ngụy từ Củ Chi đến Trảng Bàng, không cho chúng co cụm về Sài Gòn.

Sau hơn 5 tiếng tiến công, đến 11h ngày 29/4/1975, Sư đoàn 320 đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 Ngụy. Diệt 500 tên, bắt hơn 2000 tên địch, trong đó có tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá – Tư lệnh Sư đoàn 25 Ngụy và tên Trần Thắng Chức – Phó sư đoàn 25 Ngụy bị bắt.

Căn cứ Đồng Dù – Củ Chi bị tiêu diệt, cánh cửa thép Tây Bắc Sài Gòn được mở toang, Sư đoàn hoành thành xuất sắc nhiệm vụ mở cửa chiến dịch. Sau đó phối hợp đơn vị bạn đánh chiếm Quận 1, Biệt khu Thủ đô, Khu cư xá sỹ quan và Dinh Độc Lập của chế độ Ngụy quân Ngụy quyên Sài Gòn. 11 giờ 30 phút, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đã đánh chiếm, làm chủ Dinh Độc Lập, bắt Tổng thống ngụy Dương Văn Minh và toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện.

Cờ giải phóng tung bay trước tòa nhà chính của Dinh Độc Lập, đánh dấu chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã hoàn toàn sụp đổ, thành phố Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.  

Hiện vật là bộ quân phục của binh lính thuộc chính quyền Sài Gòn, được bộ đội ta thu giữ làm chiến lợi phẩm trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

82. Dao găm danh dự

Kích thước: 32cm x 10cm

Rạng sáng ngày 2 tháng 5 năm 1968, quân Mỹ từ phía Cửa Việt tiến lên nhằm tập kích trận địa của ta. Quân ta chủ động phát hiện, tổ chức Tiểu đoàn 6 tập kích bất ngờ, nhanh chóng đánh tan một tiểu đoàn Mỹ, hơn 200 tên bị tiêu diệt. Sau đó, địch dùng máy bay, pháo binh và quân ngụy tiến công nhằm kéo lực lượng ta ra khỏi trận địa, nhưng quân ta kịp thời phát hiện, tổ chức các mũi nhỏ đánh vòng phía sau, kết hợp pháo binh và cối tiêu hao, làm rối loạn đội hình địch.

Đến trưa, địch tung 3 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ có xe tăng yểm trợ tiến công nhiều hướng. Quân ta thực hiện chiến thuật “đánh gần, bám sát địch”, chờ địch lọt sâu vào trận địa rồi đồng loạt tiến công, chia cắt và tiêu diệt từng bộ phận. Đến 17 giờ, quân địch bị đánh tan, phải tháo chạy về phía Cửa Việt. Kết thúc trận đánh, quân ta tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 2/4, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3/4 và 3/9, gần 500 quân Mỹ bị tiêu diệt, 9 xe tăng bị phá hủy.

Đây là lần đầu tiên Sư đoàn thực hiện được quyết tâm tiêu diệt gọn tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ. Tin chiến thắng trên bãi cát Cửa Việt qua Đài tiếng nói Việt Nam được truyền đi cả nước. Hình ảnh xung phong như bão táp của Quân giải phóng giữa ban ngày trên bãi cát Cửa Việt đã gây nỗi kinh hoàng cho bọn “lính cổ da” Mỹ.

Kiếm danh dự của Tiểu đoàn 2 thủy quân lục chiến Mỹ là chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 52 thu được trong trận Cửa Việt tháng 5 năm 1968.

83. Kiếm chỉ huy của tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá

Kích thước: 74cm

Sau khi hoàn thành xuất sắc cuộc truy quét thần tốc trên đường số 7, Quân đoàn 3 ra đời, Sư đoàn 320 nằm trong đội hình quân đoàn 3 và được lệnh hành quân thần tốc về chiến trường miền Nam, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Quân đoàn nhận nhiệm vụ tấn công địch ở 1 trong 5 hướng tiến công chủ lực đó là hướng Tây Bắc Sài Gòn và tiêu diệt 2 trên 5 mục tiêu quan trọng là Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy.

Trong chiến dịch này, sư đoàn được giao nhiệm vụ “Tập trung lực lượng đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, mở cửa cho lực lượng Quân Đoàn đánh vào Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu Ngụy, sau đó làm lực lượng dự bị cho Quân đoàn đánh vào nội thành Sài Gòn”.

Sau hơn 5 tiếng tiến công, đến 11h ngày 29/4/1975, Sư đoàn 320 đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 Ngụy. Diệt 500 tên, bắt hơn 2000 tên địch, trong đó có tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá – Sư đoàn trưởng Sư đoàn 25 Ngụy và tên Trần Thắng Chức – Phó sư đoàn 25 Ngụy bị bắt và bị dẫn ra trình diện cách mạnh ngày 30/4/1975.

Kiếm chỉ huy của tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 25 Ngụy là chiến lợi phẩm của quân ta thu được tại căn cứ Đồng Dù vào ngày 29/4/1975.

84. Kiếm chỉ huy của tên chuẩn tướng Trần Văn Cẩm – Phó Tư lệnh Quân đoàn 2

Kích thước: 89cm

Đến cuối năm 1974, địch bị ta tấn công ở nhiều căn cứ nằm sâu trong vùng giải phóng, ta dồn địch vào các thị trấn, thị xã, các trục đường giao thông 14,19,21. Nắm vững thời cơ chiến lược đã đến, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976 và chỉ rõ hướng tiến công chủ lực là ở Tây Nguyên.Vì vậy Chiến dịch Tây Nguyên mở màn 4/1975 với mật danh là “Chiến dịch Z75”.

Buôn Mê Thuột được chọn là nơi mở đầu chiến dịch và là trận then chốt cho chiến dịch. Sư đoàn được giao nhiệm vụ tấn công quận lỵ Thuần Mẫn, cắt đường 14 Bắc Cẩm Ga. Sau 2 giờ chiến đấu, ta đã đánh chiếm được quận lỵ Thuần Mẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị bạn giải phóng Thị xã Buôn Hồ và Buôn Mê Thuột. Buôn Mê Thuột thất thủ, cuộc phản kích tái chiếm không thành, các trục đường 14,19,21 bị chia cắt, lực lượng quân Ngụy ở Pleiku và Kom Tum khó bảo toàn, bị cô lập với các tỉnh đồng bằng. Nên tên Tướng Phú – Phó tư lệnh Quân đoàn 2 bàn bạc với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định bỏ Tây Nguyên về lại đồng bằng, con đường rút chạy duy nhất chỉ còn con đường số 7 đi từ Mỹ Thạch về Phú Bổn xuống Cheo Reo. Nhận rõ ý định của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch đã giao cho Sư đoàn thực hiện cuộc truy quét thần tốc trên đường số 7.

Từ ngày 17-24/3/1975, cuộc truy kích trên đường số 7 của Sư đoàn đã làm tan rã toàn bộ tập đoàn rút chạy Quân đoàn 2, quân Khu 2, ta giải phóng được Củng Sơn, Phú Bổn, Cheo Reo. Sau đó, ta cùng với lực lượng địa phương tiến xuống giải phóng thị xã Tuy Hòa, Phú Yên 1/4, tên chuẩn tướng Trần Văn Cẩm – Phó Tư Lệnh Quân đoàn 2 bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 bắt sống.

Kiếm chỉ huy của tên chuẩn tướng Trần Văn Cẩm – Phó Tư Lệnh Quân đoàn 2 là chiến lợi phẩm của quân ta thu được tại Tuy Hòa, Phú Yên vào ngày 1/4/1975.

 

 

85. Bộ sưu tập Huy chương, cấp hàm Ngụy

BỘ HIỆN VẬT: QUÂN HÀM VÀ HUÂN CHƯƠNG CỦA QUÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA

Bộ hiện vật trưng bày phản ánh một khía cạnh lịch sử về tổ chức, cấp bậc và hệ thống khen thưởng trong lực lượng Quân Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975.

Đây là bộ quân hàm, huân huy chương chiến lợi phẩm thu được từ các sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong các chiến dịch tiến công và nổi dậy, đặc biệt là trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử xuân 1975.

Hiện vật là bằng chứng lịch sử ghi dấu sự sụp đổ hoàn toàn của bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn, thể hiện sức mạnh áp đảo cùng thắng lợi vĩ đại của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

86 – 87 – 88 – 89 – 90 – 91. Bộ sưu tập con dấu Ngụy

Kích thước:

Đường kính 4cm, cao 9cm

Đường kính 4cm

Đường kính 3,5cm

Đường kính 5 cm

Đường kính 3,5cm

Đường kính 4 cm

Tập hợp các con dấu gỗ cầm tay truyền thống, mặt dấu khắc bằng cao su hoặc kim loại. Đây là các con dấu thuộc sở cảnh sát, ty hành chính, chi khu, tiểu khu và các đơn vị quân đội của chính quyền Sài Gòn bị lực lượng ta thu giữ qua các đợt tiến công, nổi dậy và các chiến dịch giải phóng địa phương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954–1975).

Con dấu từng đại diện cho bộ máy quản lý, kiểm soát dân cư, ban hành y lệnh, căn cước và các mệnh lệnh quân sự của chính quyền cũ tại khu vực miền Nam.

Những con dấu của bộ máy chính quyền Ngụy ta thu được của địch trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Đây là những chiến lợi phẩm quý giá được quân và dân ta thu được trong quá trình chiến đấu và giải phóng các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Bộ con dấu không chỉ là minh chứng cụ thể cho hệ thống bộ máy cai trị của địch, mà quan trọng hơn, nó tượng trưng cho sự tan rã, sụp đổ của một chế độ và khẳng định thắng lợi của cuộc kháng chiến chính nghĩa, giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Sự tồn tại của chúng trong không gian trưng bày là lời nhắc nhở về một thời gian khổ nhưng hào hùng của cha ông.

92. Bộ sưu tập căn cước lính Ngụy, Mỹ

Bộ sưu tập bao gồm các loại giấy tờ tùy thân, căn cước được sử dụng bởi lính Mỹ và quân lính, viên chức thuộc chính quyền Sài Gòn cũ trước năm 1975:

Thẻ quân nhân/Thẻ căn cước lính Mỹ (ngoài cùng bên trái): Thẻ nhận dạng cá nhân (ID Card) cấp cho quân nhân thuộc lực lượng quân đội Mỹ tham chiến tại Việt Nam, bao gồm hình ảnh chân dung, dấu an ninh, mã số quân nhân và thông tin cá nhân.

Thẻ Căn cước Việt Nam Cộng hòa (các thẻ bên phải):

Giấy tờ định danh cá nhân do cơ quan cảnh sát thuộc chính quyền Sài Gòn cấp cho công dân và binh lính.

Mặt trước thẻ ghi rõ tiêu đề "VIỆT-NAM CỘNG-HÒA - THẺ CĂN-CƯỚC", in kèm ảnh chân dung, họ tên, ngày tháng năm sinh, nguyên quán, địa chỉ thường trú, lăn tay và dấu triện tròn của cơ quan cấp thẻ.

Đây là các giấy tờ tùy thân thu được từ tù binh, tử sĩ hoặc binh lính Mỹ và chính quyền Sài Gòn tháo chạy, bỏ lại tại trận địa trong các đợt tiến công của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Tập hợp các thẻ căn cước này là chứng tích lịch sử về sự hiện diện trực tiếp của quân đội Mỹ và bộ máy tay sai trên chiến trường; đồng thời minh chứng cho thắng lợi triệt để của cách mạng Việt Nam, làm sụp đổ hoàn toàn bộ máy đồn bốt và chính quyền đối phương.

93. Còng tay

Kích thước: 22cm

Sư đoàn 320 được lệnh tiến quân theo Đường số 7, cùng lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên giải phóng thị xã Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên.

Ngày 1 tháng 4 năm 1975, lúc 5 giờ 20 phút, Sư đoàn nổ súng tiến công trên toàn mặt trận Phú Yên. Pháo binh đồng loạt đánh vào các cứ điểm quan trọng, tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng nhanh chóng đột phá.

Ở hướng chủ yếu, Trung đoàn 9 chiếm cầu Ông Chừ, căn cứ Nhạn Tháp và phát triển vào trung tâm thị xã Tuy Hòa; đến 8 giờ, quận Hiếu Xương cơ bản được làm chủ.

Ở các hướng khác, Trung đoàn 48 nhanh chóng đánh chiếm Chóp Chài, sân bay nội thị, nhà lao, giải phóng 300 tù chính trị và tiến vào trung tâm Tuy Hòa, buộc hơn 1.000 quân địch ra hàng. Trung đoàn 64 đánh chiếm Núi Một, ngã ba Ga, quận Hiếu Xương và sân bay Đông Tác, bắt hàng trăm quân địch, trong đó có Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm. Các lực lượng tiếp tục truy kích, đánh chiếm Đèo Cả và những khu vực trọng yếu.

Đến 15 giờ cùng ngày, Sư đoàn cơ bản làm chủ thị xã Tuy Hòa và nhiều địa bàn trong tỉnh, làm tan rã lực lượng địch, thu nhiều vũ khí, phương tiện, tạo điều kiện cùng lực lượng địa phương tiếp tục phát triển chiến đấu, giải phóng tỉnh Phú Yên.

Hiện vật “Còng tay” do cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320, Quân đoàn 3) thu giữ khi đánh chiếm và giải phóng Nhà lao Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên) trong Chiến dịch giải phóng tỉnh Phú Yên tháng 4 năm 1975.

94. Đài Sanyo của Nguyễn Văn Thiệu

Kích thước: 11cm x 7cm

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, Dinh Độc Lập – trung tâm quyền lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa – được lực lượng cách mạng tiếp quản, đánh dấu sự kết thúc của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và mở ra thời kỳ đất nước thống nhất. Ngày 2 tháng 5 năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ra Chỉ thị số 368/M2 giao cho Sư đoàn 320 đảm nhiệm khu vực cầu Bông, cầu Sáng đến Đồng Dù, Củ Chi và về phía Bắc 2km, đồng thời chỉ huy chung lực lượng làm nhiệm vụ trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (gồm Trung đoàn pháo binh 40 và Trung đoàn phòng không 593).

Để thực hiện nhiệm vụ trên, ngày 10 tháng 5 năm 1975, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã điều chỉnh, bố trí lại đội hình đứng chân, triển khai kế hoạch chiến đấu tại chỗ, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ mục tiêu, thống nhất chỉ huy, tổ chức lùng quét làm trong sạch địa bàn, bảo vệ chính quyền và nhân dân; đồng thời triển khai một đợt sinh hoạt chính trị ngắn, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để tham gia lễ mừng chiến thắng. Ngày 15 tháng 5, Sư đoàn tham dự lễ mừng chiến thắng được Nhà nước tổ chức long trọng tại khu vực Dinh Độc Lập (thành phố Sài Gòn). Tại buổi lễ, Trung đoàn 64 thu được đài Sanyo của tên Nguyễn Văn Thiệu ở Dinh Độc Lập.

95. Máy ảnh

Kích thước: 18cm x 8cm

Máy ảnh là hiện vật được lực lượng ta thu giữ của địch trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là loại máy ảnh cơ học sử dụng phim, được sản xuất phục vụ nhu cầu ghi hình, lưu trữ tư liệu và hoạt động tác nghiệp trong quân đội cũng như các cơ quan dân sự của chính quyền Sài Gòn và lực lượng Mỹ. Với kết cấu chắc chắn, hệ thống ống kính quang học và cơ chế vận hành hoàn toàn bằng cơ khí, chiếc máy ảnh phản ánh trình độ kỹ thuật và công nghệ nhiếp ảnh phổ biến trong giai đoạn giữa thế kỷ XX.

Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, máy ảnh là phương tiện quan trọng phục vụ công tác trinh sát, thu thập thông tin, tuyên truyền và ghi lại các hoạt động quân sự trên chiến trường. Việc thu giữ được chiếc máy ảnh này không chỉ thể hiện những thắng lợi của quân và dân ta trong chiến đấu mà còn góp phần bổ sung nguồn tư liệu, phương tiện phục vụ công tác nghiên cứu, tuyên truyền và lưu giữ những dấu mốc của cuộc kháng chiến.

96. Máy thông tin PRC 25

Kích thước: 20cm x 25cm

11 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng Dù. Lá cờ quyết chiến quyết thắng của Đoàn Đồng Bằng phấp phới tung bay tại trung tâm chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy, báo hiệu trận đánh đã toàn thắng.

Như vậy, chỉ hơn 5 giờ tiến công vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn 25 và các lực lượng địch trong căn cứ Đồng Dù đã bị đập tan, tiêu diệt 500 tên, bắt 2.269 tên, thu và phá hủy 4.909 khẩu súng các loại (có 9 khẩu pháo 175mm, 155mm, 105mm), 100 máy thông tin, 2 máy bay, 423 xe quân sự (có 23 xe tăng, xe bọc thép). Ngày hôm sau (30 tháng 4), sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của địch, Chính trị viên Đội nữ du kích Củ Chi, Lê Thị Sương (còn gọi là bà Năm Sương) đã bàn giao hàng trăm tên địch ra trình diện chính quyền cách mạng cho Trung đoàn 48 trong đó có tên Chuẩn tướng Lý Tòng Bá (Tư lệnh Sư đoàn) và tên Đại tá Trần Thắng Chức (Sư đoàn phó) cùng một số sĩ quan tham mưu Sư đoàn 25 ngụy.

Máy thông tin vô tuyến PRC-25, là một trong những máy thông tin của địch bị bộ đội ta thu được tại Đồng Dù tháng 4/1975, hiện được lưu giữ, trưng bày tại Sư đoàn 320.

PRC-25 là loại máy thu – phát vô tuyến quân sự cơ động, phục vụ thông tin liên lạc, chỉ huy và hiệp đồng giữa các đơn vị trên chiến trường. Máy có kết cấu chắc chắn, sử dụng ăng-ten và tổ hợp máy thu – phát, phù hợp với điều kiện hành quân, chiến đấu.

97 - 98 - 99. 3 khẩu súng AR-15

Kích thước: Dài 98cm

Căn cứ Đồng Dù – Củ Chi bị tiêu diệt, cánh cửa thép Tây Bắc Sài Gòn được mở toang, Sư đoàn hoành thành xuất sắc nhiệm vụ mở cửa chiến dịch. Nắm chắc thời cơ, Sư đoàn 10, lực lượng thọc sâu binh chủng hợp thành của Quân đoàn do Tư lệnh Sư đoàn Đoàn Hồng Sơn và Chính ủy Lã Ngọc Châu chỉ huy, được tăng cường Trung đoàn 64 Sư đoàn 320, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn xe tăng 273 (thiếu), 1 tiểu đoàn pháo 155mm, 6 cơ cấu A72 (tên lửa phòng không vác vai) được Cụm pháo binh (số 4 và số 6) chi viện, nhanh chóng đánh vào tuyến phòng thủ ngoại vi Sài Gòn. Sau đó, phối hợp đơn vị bạn đánh chiếm Quận 1, Biệt khu Thủ đô, Khu cư xá sỹ quan và Dinh Độc Lập của chế độ Ngụy quân Ngụy quyên Sài Gòn, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Trong hai ngày chiến đấu, Trung đoàn 64 đã tiêu diệt 278 tên, bắt 1.904 tên, phá hủy 36 xe quân sự (11 xe tăng, xe bọc thép); thu 423 xe, 617 khẩu súng, 35 vô tuyến điện. Trung đoàn 64 được Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trung đoàn 64 có 4 chiến sĩ hy sinh, 12 chiến sĩ bị thương. Đây là những mất mát hy sinh cuối cùng của Sư đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ba khẩu súng AR-15, là một trong những chiến lợi phẩm Sư đoàn 320 thu được của địch trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

100. Súng ĐKZ  

Đến cuối tháng 9 năm 1977, Bộ Quốc phòng thông báo tình hình biên giới Tây Nam và chỉ thị cho Quân đòan 3 gấp rút làm mọi công tá chuẩn bị, sẵn sàng đợi lệnh bước vào chiến đấu. Đầu tháng 10 năm 1977, BQP chính thức ra lệnh cho Quân đoàn 3 cơ động Sư đoàn Bộ binh 10 và một lực lượng binh khí kỹ thuật lên phía Bắc tỉnh Tây Ninh chiến đấu bảo vệ biên giới. Trong đợt chiến đấu này, Trung đoàn 64 là đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 320 lên đường thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam. Bước vào chiến đấu, trung đoàn 64 tham gia chiến dịch tiến công mang mật danh A8 do BTL QĐ3 mở. Với mục đích là đánh đòn trừng trị, quét sạch quân xâm lược Khơ-me Đỏ ra khỏi biên giới phía Bắc tỉnh Tây Ninh, đồng thời triệt phá các vị trí bàn đạp tiến công của địch trên đất đối phương.

Khẩu súng không giật (ĐKZ), thuộc trang bị của Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. ĐKZ là loại hỏa lực có uy lực lớn, thường được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu kiên cố, phương tiện cơ giới và xe tăng, thiết giáp của đối phương. Khẩu súng có kết cấu nòng dài, đặt trên giá súng ba chân, thuận lợi cho việc bố trí, ngắm bắn và cơ động trên chiến trường. Là một trong những khẩu súng đã bắn cháy xe tăng địch đầu tiên của Sư đoàn trong chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam.

101. Súng ĐKZ 85mm 

Đang cập nhập...

102 - 103 - 104. Vỏ đạn pháo cao xạ 37mm

Kích thước: 65cm

Thực hiện kế hoạch tác chiến, trưa ngày 4 tháng 1 năm 1979, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 320: vượt sông Mê Kông, giải phóng thị xã Kông Pông Chàm, đập nát mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng ngự phía Bắc Phnôm Pênh, mở cửa cho lực lượng chủ lực tiến về giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh. Thời gian nổ súng là đêm ngày 5, rạng sáng 6/1/1979. Phân tích tình hình địch tại thời điểm này, Trung tướng Khuất Duy Tiến, khi ấy là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, Quân đoàn 3, cho biết: “Tại thị xã Công-pông Chàm, đối phương đã cho xây dựng một “phòng tuyến thép”. Xen kẽ trong các tuyến công sự và các chốt chặn những ngã ba, ngã tư đường phố là một lực lượng lớn xe tăng, xe thiết giáp. Hàng chục khẩu pháo lớn ở phía tây, tây bắc sẵn sàng nhả đạn. Phòng tuyến này do đích thân Xon Xen - Bộ trưởng Quốc phòng Khmer Đỏ chỉ huy. Vị tướng này hy vọng với đội quân đông, hỏa lực dày đặc chĩa xuống lòng sông và dòng Mê Kông rộng hơn 1km nước chảy xiết, hai bờ dốc đứng sẽ trở thành chiến hào thiên nhiên lý lưởng, một dòng sông lửa chặn đứng đối phương...”.

Trung đoàn tổ chức hai bến vượt. Bến vượt bí mật cách bến chính 1.800m. Nếu phương án bí mật đổ bộ không thực hiện được thì chuyển ngay sang phương án vượt sông bằng sức mạnh. Phương án tác chiến này đã được Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 chuẩn y.

Thực hiện kế hoạch tác chiến, đêm ngày 5, rạng sáng 6/1/1979, Trung đoàn 64 thực hành chiếm lĩnh trận địa, triển khai đội hình chiến đấu. Tiểu đoàn 9 bắt đầu vượt sông theo phương án bí mật. Địch phát hiện, chúng dùng hỏa lực dày đặc quét trên mặt sông. Trong vòng 15 phút, 6/9 chiếc thuyền vượt sông của ta bị thủng, hàng chục cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9 hy sinh. Bến vượt bị kiểm soát. Như vậy, ý định bí mật vượt sông lót trước một lực lượng không thành. Trung đoàn trưởng Vũ Văn Cối tức tốc báo cáo qua bộ đàm, xin phép được thực hiện “phương án 2”, được sự đồng ý của trên, trung đoàn thực hiện phương án vượt sông bằng sức mạnh và chuyển toàn bộ lực lượng về bến chính để vượt sông.

Trung đoàn 64 đã kịp thời tổ chức thành 2 mũi bộ binh, xe tăng yểm trợ truy kích. Trong cơn tuyệt vọng, Xon Xen gom được 1 tiểu đoàn quân thất trận tổ chức phản kích vào phía Nam thị xã nhưng bị Tiểu đoàn 1, đang trên đà tiến công, đánh bật trở lại rồi tháo chạy. Đúng 8 giờ 10 phút ngày 6 tháng 1 năm 1979, thị xã Kông Pông Chàm được giải phóng, cánh cửa thép vào Phnôm Pênh mở toang.

Tháng 1/1979, khẩu pháo của Tiểu đoàn 16 đã hạ nòng bắn vào thị xã Kông Pông Chàm, chi viện cho Trung đoàn 64 vượt sông giải phóng thị xã Kông Pông Chàm. Sự kiện diễn ra trong thời kỳ Sư đoàn 320 cùng các đơn vị của Quân đội nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng.