TỔNG QUAN TỦ KÍNH SỐ 6

Hiện vật · Tủ kính số 6

TỦ KÍNH 6
FULL ẢNH TỦ KÍNH 6

65. Cờ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Kích thước: 116cm x 74cm

Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị trọng tâm, ngày 8 tháng 1 năm 1980, Đảng ủy Sư đoàn tổ chức Hội nghị ra Nghị quyết số 123/NQ, nhằm kiểm điểm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 1979 và đề ra phương hướng xây dựng Sư đoàn năm 1980.

Về kiểm điểm kết quả đạt được trong năm 1979, Đảng ủy nhấn mạnh: “Đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Tây Nam, chấp hành nghiêm đường lối, chính sách quốc tế của Đảng, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế. Sư đoàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ di chuyển đội hình trở về Tổ quốc thực hiện nhiệm vụ mới, được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ 2 cho Sư đoàn và Trung đoàn 48; lần thứ nhất cho các đơn vị: Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 54; Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64; Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48.

66. Cờ Ngụy

Kích thước: 116 cm x 74cm

Đến cuối năm 1974, địch bị ta tấn công ở nhiều căn cứ nằm sâu trong vùng giải phóng, ta dồn địch vào các thị trấn, thị xã, các trục đường giao thông 14,19,21. Nắm vững thời cơ chiến lược đã đến, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975- 1976 và chỉ rõ hướng tiến công chủ lực là ở Tây Nguyên.Vì vậy Chiến dịch Tây Nguyên mở màn tháng 4 năm 1975 với mật danh là “Chiến dịch Z75”.

Buôn Mê Thuột được chọn là nơi mở đầu và là trận then chốt cho chiến dịch. Sư đoàn được giao nhiệm vụ tấn công quận lỵ Thuần Mẫn , cắt đường 14 Bắc Cẩm Ga. Sau 2 giờ chiến đấu, ta đã đánh chiếm được quận lỵ Thuần Mẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị bạn giải phóng Thị xã Buôn Hồ và Buôn Mê Thuột. Buôn Mê Thuột thất thủ, cuộc phản kích tái chiếm không thành, các trục đường 14,19,21 bị chia cắt, lực lượng quân Ngụy ở Pleiku và Komtum khó bảo toàn, bị cô lập với các tỉnh đồng bằng. Nên tên Tướng Phú – Phó tư lệnh Quân đoàn 2 bàn bạc với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định bỏ Tây Nguyên về lại đồng bằng, con đường rút chạy duy nhất chỉ còn con đường số 7 đi từ Mỹ Thạch về Phú Bổn xuống Cheo Reo. Nhận rõ ý định của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch đã giao cho Sư đoàn thực hiện cuộc truy quét thần tốc trên đường số 7.

Ngay trong đêm 16 tháng 3, Sư đoàn sử dụng lực lượng Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 chốt chặn đường rút chạy của địch tại Nam Cheo reo. Sáng ngày 17 tháng 3, hàng ngàn xe quân sự đi hàng 4 hàng 5 lấn sang cả 2 bên đường, phía trên có máy bay ném boom rocket nằm chi viện cho địch rút chạy. Khi địch rơi vào trận địa của ta, ta sử dụng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48 khóa đuôi đường rút chạy của địch ở Mỹ Thạch, nhốt địch ở thung lũng Cheo Reo. Sau đó, ta sử dụng lực lượng Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 tấn công địch ở Thung Lũng. Chưa kịp đào công sự, quân ta sử dụng ụ mối, gốc cây để nổ súng tấn công địch. Trên đường rút chạy, nghe tiếng súng của ta, quân địch bỏ xe tháo chạy, tạo nên sự hỗn loạn trên đường số 7.

Từ ngày 17 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, cuộc truy kích trên đường số 7 của Sư đoàn đã làm tan rã toàn bộ tập đoàn rút chạy Quân đoàn 2, quân Khu 2, ta giải phóng được Củng Sơn, Phú Bổn, Cheo Reo, sau đó cùng với lực lượng địa phương tiến xuống giải phóng thị xã Tuy Hòa, Phú Yên 1 tháng 4, tên chuẩn tướng Trần Cẩm Vân – Phó tư lệnh Quân Khu 2 bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 bắt sống.

Hiện vật là Cờ Quân khu 2 Ngụy, chiến lợi phẩm do Sư đoàn thu được của địch trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3 năm 1975.

67. Ăng- gô

Kích thước 14cm x 14cm x 8cm

Ăng gô (bộ đồ ăn/nấu ăn dã chiến cá nhân bằng kim loại) là vật dụng sinh hoạt thiết yếu cứu cánh cho người lính trong thời chiến, đóng vai trò như một chiếc nồi, bát ăn và hộp đựng đồ đa năng nhỏ gọn. Là một trong những vật dụng thường dùng trong balo của cán bộ, chiến sĩ nó nằm trong túi cóc lớn phía sau.

Thiếu tướng Nguyễn Duy Khâm là nguyên Phó Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng và nguyên Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320. Ông từng tham gia chiến đấu và có nhiều ký ức sâu sắc trong thời kỳ tiếp quản, giải phóng Hải Phòng năm 1955 (khi đó ông là Trung đội phó Đại đội 27, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48).

Tháng 8 năm 2011, Thiếu tướng Nguyễn Duy Khâm đã tặng lại Ăng-gô của mình cho Sư đoàn.

68. Hộp đựng kính

Kích thước 14cm x 5.5cm

Hiện vật là chiếc hộp đựng kính bằng hợp kim nhôm, được chế tác thủ công từ những ống pháo sáng thu nhặt trên chiến trường. Trong điều kiện chiến đấu gian khổ, thiếu thốn về vật chất và dụng cụ sản xuất, chiếc hộp do chiến sĩ Lê Mạnh Hải, thuộc Tiểu đoàn 25, Sư đoàn 320, chế tạo trong thời gian đơn vị hoạt động trên chiến trường Tây Nguyên.

Đồng chí Lê Mạnh Hải đã sử dụng những ống pháo sáng bằng hợp kim nhôm, cắt, gò thành hai nửa của chiếc hộp; sau đó tự chế bản lề và khóa lẫy để hai nửa hộp có thể đóng mở chắc chắn. Công việc được thực hiện hoàn toàn thủ công giữa chiến trường, không có máy móc chuyên dụng. Những chiếc hộp sau khi hoàn thành được sử dụng để bảo quản kính của cán bộ chỉ huy.

Khi tham gia các chiến dịch lớn tại mặt trận Tây Nguyên (B3), Nguyễn Duy Khâm giữ chức Đại úy, Phó Chủ nhiệm Hậu cần rồi Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 320. Ông là người trực tiếp chỉ đạo, tổ chức công tác bảo đảm lương thực, đạn dược và vận chuyển thương binh đầy gian khổ tại các cao điểm như 1049, Chư Mom Ray. Hộp đựng kính này, đồng chí Lê Mạnh Hải đã làm và tặng cho đồng chí Nguyễn Duy Khâm tại căn cứ Làng Siêu năm 1974.

 

69. Máy Ma-nhê-tô

Ma-nhê-tô là máy phát điện một chiều kiểu nhỏ hoặc thiết bị đánh lửa tự động bằng từ trường.

Thiết bị này sử dụng nam châm vĩnh cửu để tạo ra dòng điện xoay chiều, sau đó biến đổi thành xung điện cao áp để tạo ra tia lửa điện ở bugi.

Máy Ma-nhê-tô do đồng chí Lê Mạnh Hải, Tiểu đoàn 25 cải tiến thành máy đánh lửa giúp anh nuôi đơn vị, lấy lửa nấu cơm dễ hơn trên chiến trường.

70 - 71 - 72. Súng B40 của Đồng chí Nguyễn Văn Dong, đồng chí Nguyễn Vi Hợi và súng B41 của đồng chí Nguyễn Xước Hiện

*Súng B40 của Đồng chí Nguyễn Văn Dong (Súng B40 ở trên)

Mờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, địch đã cho máy bay L-19 trinh sát các khu vực kiểm soát của ta. 30 phút sau, 2 tốp AD-6 nối đuôi nhau quần đảo trên khu vực Tiểu đoàn 2, rồi lần lượt bổ nhào đánh vào khu cột cờ của ta trên Đường số 14. Chúng đánh phá đến lần thứ 3 nhưng cột cờ vẫn không gãy. Lá cờ giải phóng vẫn phấp phới tung bay như thách thức kẻ thù. Đúng 9 giờ, sau hàng chục lần dùng máy bay và pháo binh bắn phá, địch bắt đầu cho Chi đoàn 3 thuộc Thiết đoàn 21 ngụy (lần này chúng đưa vào sử dụng loại xe tăng hạng nặng M48, mới xuất hiện lần đầu ở chiến trường Tây Nguyên) và 2 đại đội bảo an từ Mỹ Thạch hành quân lên quyết san bằng khu vực kiểm soát của ta.

Với sự bình tĩnh, quyết tâm tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Trần Văn Thân phối hợp chặt chẽ với Tiểu đoàn 12 địa phương đã bình tĩnh đợi địch lọt vào các điểm chốt, kết hợp hỏa lực và các thủ đoạn chiến thuật chốt chặn, chốt cắt lần lượt đánh lui các đợt tiến công, tiêu diệt nhiều tên địch, bắn cháy 9 xe tăng, xe bọc thép (trong đó có 5 xe tăng M48), bắt nhiều tù binh, thu giữ nhiều vũ khí, giữ vững vùng giải phóng, giáng một đòn phủ đầu chí mạng vào Thiết đoàn 21, Quân đoàn 2 Ngụy.

Hiện vật là súng B40 số 339 của đồng chí Nguyễn Văn Dong, Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48. Trong quá trình chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng trên Đường 14, khu vực Phú Quang – Mỹ Thạch, đồng chí đã dùng khẩu súng này diệt 3 xe tăng M48, bắn bị thương 2 chiếc khác và diệt 15 tên địch; với thành tích đó, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

*Súng B41 của đồng chí Nguyễn Xước Hiện (Súng B41 ở giữa)
Sau khi thất bại ở Buôn Ma Thuột và Nông Trại-Chư Cúc, ngày
14/3/1975, quân Ngụy quyết định rút khỏi Tây Nguyên theo Đường số 7, qua Cheo Reo về đồng bằng Khu 5. Nắm được ý định của địch, đêm 16/3, Bộ tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 320 được tăng cường một số đơn vị khẩn trương truy kích địch rút chạy.

Sau thời gian hành quân vượt qua dãy núi đá hiểm trở và chạy tắt 8km đường rừng, sáng 18/3/1975, Đại đội 3, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64, Sư đoàn 320) đã có mặt làm nhiệm vụ chốt chặn, đánh địch tại khu vực cầu Cây Sung ở phía Nam Cheo Reo. Lúc này, trên Đường số 7, đoạn từ cầu sông Bờ đến cầu Cây Sung dài 4km, địch đang co cụm hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp. Do bị lực lượng Tiểu đoàn 9 đánh vào đội hình trên cầu sông Bờ, hàng chục xe tăng, xe thiết giáp của địch "mở đường máu" điên cuồng bắn phá và rút chạy. Lúc này, Đại đội 3 đã chốt chặn tại cầu Cây Sung quyết không cho địch chạy thoát về phía biển Tuy Hòa. Sáng 19/3/1975, địch tổ chức nhiều đợt tấn công bằng bộ binh và xe tăng vào trận địa hòng tiêu diệt quân ta để mở đường rút chạy. Lúc đó, Đại đội 3 chỉ còn khoảng 40 khẩu AK, 8 khẩu B-40 và 2 khẩu B-41 vẫn quyết tâm tiêu diệt địch.

Được lệnh cấp trên, Tiểu đội phó Nguyễn Xước Hiện cùng 3 chiến sĩ vào vị trí chiến đấu, phục kích diệt xe tăng địch. Khi chiếc xe tăng đi đầu cách khoảng 50m, đồng chí Hiện siết cò, chiếc xe tăng bốc cháy lao xuống ngầm. Khoảng 15 phút sau lại xuất hiện hai chiếc xe tăng và cũng chung số phận với chiếc đầu tiên. Chiếc thứ tư là xe bọc thép chở quân M113 bắn hỏa lực như mưa vào khu vực của ta. Lúc này, tai đồng chí Hiện ù đặc nhưng vẫn bình tĩnh nhằm thẳng mục tiêu siết cò, chiếc M113 bốc cháy. Chừng 20 phút sau, chiếc xe tăng thứ năm xồng xộc lao đến, chồm lên bờ kênh rồi khựng lại; chớp thời cơ, Tiểu đội phó Hiện bắn quả đạn cuối cùng, chiếc xe tăng bốc cháy.

Trận chiến đấu càng quyết liệt hơn. Hết đạn B-41, đồng chí Hiện dùng súng AK tiêu diệt 20 tên và bắt sống 10 tên địch. Suốt một ngày đánh địch, cơm không kịp ăn, nước bi đông cạn khô, mặt mũi đen sạm khói súng, Tiểu đội phó Hiện cùng tập thể Đại đội 3 đã tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy 10 xe tăng địch tại cầu Cây Sung. Riêng đồng chí Nguyễn Xước Hiện chỉ với 5 quả đạn B-41 đã diệt gọn 4 xe tăng M48 và 1 chiếc xe M113 của địch. Ý đồ rút quân từ Tây Nguyên về duyên hải của Quân đoàn 2 Ngụy bị phá sản hoàn toàn. 

Sau trận đánh này, đồng chí Nguyễn Xước Hiện được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt xe cơ giới cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt địch cấp ưu tú và Huân chương Chiến công hạng Nhì. 

*Súng B40 của Đồng chí Nguyễn Vi Hợi (Súng B40 ở dưới)

Tháng 3/1975, sau khi quân ta tiến công và giải phóng Buôn Ma Thuột, ngày 16-3-1975, hơn 15.000 tàn quân Quân đoàn 2 ngụy dưới sự chỉ huy của Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm cùng gia đình hoảng loạn tháo chạy khỏi Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Pleiku, kéo theo hàng chục nghìn người dân đổ dồn xuống đồng bằng qua Đường 7. Nhận định địch sẽ co cụm ở duyên hải miền Trung để phản kích, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên lệnh cho Sư đoàn 320 hành quân băng rừng, tiếp cận, chiếm lĩnh các điểm cao tại Cheo Reo-Phú Bổn, chặn đứng đường rút của địch.

Rạng sáng 18/3, nhiều mũi tiến công của Sư đoàn 320 bí mật ém sát Đường 7 chờ lệnh. Sư đoàn hành quân suốt ngày đêm, đốt đuốc soi đường, quyết bám sát địch. Trong hai ngày 18 và 19/3, những trận đánh dữ dội nổ ra tại trại Ngô Quyền, sân bay Phú Bổn, cầu Sông Bờ, cầu Cây Sung, đèo Tô Na... Ông được lệnh khai hỏa B40 đánh sập cầu Sông Bờ, khiến hàng nghìn xe quân sự địch ùn ứ từ đèo Tô Na đến cầu Sông Bờ. Trong trận đánh này, ông sử dụng B40 trực tiếp bắn cháy 5 xe tăng và 2 xe thiết giáp chở quân M-113. Trận phục kích kéo dài nhiều giờ, địch hoảng loạn tháo chạy, bỏ lại nhiều phương tiện chiến đấu cùng vô số vũ khí.

Với chiến công xuất sắc này, Nguyễn Vi Hợi được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt xe cơ giới và Dũng sĩ quyết thắng. Đến sáng 30/4/1975, ông cùng đơn vị tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm dinh cảnh sát ngụy, góp phần vào ngày toàn thắng của dân tộc. Năm 1976, dũng sĩ Nguyễn Vi Hợi được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

73. Súng AK (Của đồng chí Bế Văn Thành và Vũ Văn Sơn)

Kích thước dài: 87cm

Khẩu súng AK số 4557 của đồng chí Bế Văn Thành, chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48 gắn với quá trình chiến đấu của đồng chí trong những năm 1974 – 1975.

Năm 1974 trong trận tiêu diệt căn cứ làng Siêu, Bế Văn Thành chỉ huy một bộ phận dũng cảm, nhanh chóng đánh chiếm được lô cốt đầu cầu, tạo điều kiện cho toàn đơn vị xông lên phát triển tiêu diệt địch trong căn cứ. Sau khi đã diệt được xe bọc thép và một số hỏa điểm ở hướng cửa mở, Bế Văn Thành tiếp tục dẫn đầu đơn vị xông lên chiếm điểm cao, chỉ cho đồng đội diệt từng mục tiêu. Lợi dụng lúc hỏa lực địch đang bị thu hút về hướng ta nghi binh, xạ thủ B40 đi cùng Trung đội trưởng Thành bắn liền 2 phát không trúng xe vì vướng bờ tường đất. Trước tình thế gay go đó, nếu chần chừ không vượt qua được cửa mở thì sẽ thương vong lớn. Suy nghĩ giây lát, Trung đội trưởng Thành lấy B40 tiếp cận gò đất cao, rồi bật dậy ngắm bắn cháy chiếc M113 gần nhất, tiếp tục lắp quả đạn B40 thứ 2 vào nòng thì anh bị trúng đạn ngã xuống. Trận đánh sắp kết thúc thì đồng chí bị thương nặng. Trước lúc hy sinh, Bế Văn Thành còn trao súng cho đồng đội và động viên mọi người tiếp tục truy quét địch. Noi gương hành động chiến đấu anh dũng của Trung đội trưởng Thành, các xạ thủ bám bờ đất tiêu diệt các xe bọc thép, tạo điều kiện cho bộ đội xung phong vào đánh chiếm căn cứ. Trên hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 2 phát triển khá thuận lợi, đã đánh chiếm hầu hết các mục tiêu. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, đội hình địch rối loạn, hò nhau chạy trốn. 6 giờ 50 phút, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 đã làm chủ căn cứ làng Siêu.

Phát huy truyền thống đó, đồng chí Vũ Văn Sơn, Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48 trong chiến dịch năm 1975 đã cùng đơn vị tham gia đánh trận ở Cheo Reo, Đồng Dù diệt và bắt sống 93 tên địch, 3 lần được tặng huân chương.

74 - 75. Súng AK và AK báng gấp (Của đồng chí Đoàn Việt Hùng)

Sư đoàn 320 được lệnh tiến quân theo Đường số 7, cùng lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên giải phóng thị xã Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên. Để hoàn thành nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân đoàn giao cho, Sư đoàn sẽ phải tiến hành tác chiến trên một khu vực rộng lớn bao gồm thị xã Tuy Hòa và hầu hết các huyện ven biển thuộc tỉnh Phú Yên. Diện mục tiêu rộng lớn và đa dạng như vậy nhưng yêu cầu thời gian lại hết sức cấp bách, Sư đoàn chỉ được một tuần lễ để vừa chuẩn bị, vừa thực hành chiến đấu.

Đến 8 giờ 20 phút, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 đánh vào sân bay, phát hiện một bộ phận lớn quân địch đang tập trung ở sát bờ biển chờ tàu hải quân đến cứu, lập tức tổ chức truy quét ngay bắt được 300 tên (có tên chuẩn tướng Trần Văn Cẩm - Tư lệnh phó Quân đoàn 2 Ngụy. Nhiều tàu xuồng của địch đến cứu đồng bọn, nhưng bị xe tăng ta bắn cháy 1 chiếc, nên dạt ra, lởn vởn ngoài khơi. Đến 15 giờ ngày 1 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn cơ bản làm chủ thị xã Tuy Hòa, quận Tuy Hòa 1, quận Tuy An, quận Hiếu Xương đến Đèo Cả. Ta đã tiêu diệt 11 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 3.490 tên. Trong đó diệt 600 tên có 46 sĩ quan từ chuẩn úy đến thiếu tá, bắt 2.142 tên (có Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm và Đại tá Vi Văn Bình - Chánh Thanh tra Quân đoàn 2 ngụy và nhiều sĩ quan khác), phóng thích 748 tên. Thu 6.728 súng các loại (11 khẩu pháo 105mm), 267 máy hữu tuyến điện, 144 máy vô tuyến điện, thu và phá hủy 266 xe các loại (17 xe tăng và bọc thép), bắn rơi và cháy 5 máy bay các loại, bắn cháy 2 tàu biển.

Khẩu súng AK của đồng chí Đoàn Việt Hùng, đơn vị Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, gắn với chiến đấu và lập công bắt sống tên chuẩn tướng Trần Văn Cẩm (Quân khu phó Quân khu 2 Ngụy) tại sân bay Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên vào ngày 1 tháng 4 năm 1975.

76 - 77 - 78. Vỏ đạn pháo 105mm & vỏ đạn pháo 80mm

Kích thước:

Vỏ đạn pháo 105mm, đường kính 10cm, cao 37cm

Vỏ đạn pháo 80mm, đường kính 8cm, cao 62cm

Sau khi hoàn thành xuất sắc cuộc truy quét thần tốc trên đường số 7, Quân đoàn 3 ra đời, Sư đoàn 320 nằm trong đội hình Quân đoàn 3 và được lệnh hành quân thần tốc về chiến trường miền Nam, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong chiến dịch này, sư đoàn được giao nhiệm vụ “Tập trung lực lượng đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, mở cửa cho lực lượng Quân Đoàn đánh vào Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu Ngụy, sau đó làm lực lượng dự bị cho Quân đoàn đánh vào nội thành Sài Gòn”.

Trong trận quyết chiến này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định sử dụng lực lượng như sau: Trung đoàn bộ binh 48 được tăng cường 1 đại đội xe tăng (8 xe), 3 khẩu pháo bắn trực tiếp (2 khẩu 105mm, 1 khẩu 85mm), 1 khẩu cối 120mm, được hỏa lực pháo binh, phòng không của sư đoàn chi viện; Trung đoàn bộ binh 9 (thiếu Tiểu đoàn bộ binh 6) được tăng cường 1 trung đội xe tăng (4 xe), 1 Tiểu đoàn súng máy cao xạ 12,7mm, 2 khẩu cối 120mm; Tiểu đoàn bộ binh 6 Trung đoàn bộ binh 9 làm lực lượng dự bị của Sư đoàn, bố trí phía sau Trung đoàn 48; Đại đội bộ binh 2 Tiểu đoàn bộ binh 4 Trung đoàn bộ binh 9; Trung đoàn pháo binh 54 và Tiểu đoàn lựu pháo (thiếu) của Trung đoàn 40; Trung đoàn phòng không 593 (thiếu) chiếm lĩnh trận địa ở Tây Bắc Đồng Dù.

Sau khi thống nhất các phương án tiến công, đúng 5 giờ 30 phút ngày 29/4/1975, pháo binh Sư đoàn đã bắn liên tục 2 tiếng vào căn cứ Đồng Dù, quân ta đồng loạt tiến công vào căn cứ. Cùng lúc đó thì bộ binh trên các hướng nổ mìn, định hướng và đánh phá nhiều lớp hàng rào. Sau 30 phút pháo kích, địch phát hiện hướng mở cửa đã cho xe tăng và bộ binh ra bịt lấp các cửa đồng thời đánh vào đội hình của Sư đoàn.

Ở hướng chính (cửa số 1) do Trung đoàn 48 đảm nhiệm. Khi mở đến những lớp hàng rào cuối cùng thì ta bị địch tấn công dữ dội, được hỏa lực của cấp trên chi viện kịp thời đến 7 giờ 30 phút ta đã mở thông được cánh cửa số 1. Tuy nhiên lúc vào thì bị xe tăng của địch bắn chặn, bộ đội ta bị thương khó phát triển đội hình. Đến giờ đồng chí Vũ Văn Sơn đã tiêu diệt được xe tăng nên quân ta nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trong sở chỉ huy.

Ở hướng thứ yếu, lực lượng của Trung đoàn 9 mở được 2 cửa nhưng bị quân địch phản kích mạnh mẽ nên đội hình không phát triển được.

Vào lúc 9 giờ, qua đài trinh sát kỹ thuật ta nghe được tin tên tướng Lý Tòng Bá ra lệnh cho quân ở Trảng Bàng, Xóm Mới, Củ Chi đến chi viện cho lực lượng ở căn cứ Đồng Dù.

Trước diễn biến đang có lợi và biết được ý định chi viện của địch, Bộ tư lệnh Sư đoàn đã quyết định thay đổi chiến lược, sẽ tập trung toàn bộ lực lượng của ta đánh trên hướng chính do Trung đoàn đảm nhiệm.

Sau hơn 5 tiếng tiến công, đến 11 giờ ngày 29/4/1975, Sư đoàn 320 đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 Ngụy.

Hiện vật vỏ đạn pháo 105mm và vỏ đạn pháo 80mm là 1 trong 27 quả đạn của Đại đội 2, Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 54 đã bắn phá hủy 5 khẩu pháo của địch tại căn cứ Đồng Dù.