Hiện vật · Tủ kính số 4
Kích
thước:
Súng
tiểu liên MAT 49: 85cm x 27cm
Súng
tiểu liên Sten: Dài 80cm
Súng
trường MAS: Dài 110cm
Chín năm trường kỳ gian khổ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại đoàn đã tham gia 9 chiến dịch với hơn 400 trận đánh lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 35.686 tên địch (có trên 15.000 lính Âu - Phi), bức rút hàng trăm đồn bốt địch. Thu 4.849 súng các loại, phá hủy 24 xe tăng, bắn rơi 6 máy bay, bắn chìm bắn cháy 22 chiếc ca nô, thu 24 khẩu pháo 105mm, 96 xe cơ giới, hàng trăm tấn đạn dược và nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 320 đã vượt qua muôn ngàn khó khăn thử thách, không ngừng lớn mạnh và trưởng thành. Bước chân của Đại đoàn Đồng Bằng đã in dấu trên khắp mọi nẻo đường chiến đấu gắn liền với những địa danh vang vọng chiến công ở các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình, Thanh Hóa. Nhiều năm hoạt động trong vùng địch hậu, phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, tác chiến trên mọi địa hình, đánh mọi đối tượng địch, giải phóng 10 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; tiêu diệt và đánh thiệt hại 5 binh đoàn, 3 trung đoàn quân Pháp, lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần vào chiến thắng vĩ đại của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.Hiện vật là một trong nhiều chiến lợi phẩm Sư đoàn thu được trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Kích
thước:
Mảnh
boom trận càn
thủy ngân: 35cm x 10cm
Mảnh
bom Napan: 45cm x 16cm
Trận càn Thủy Ngân (Opération Mercure
- Tháng 3/1953): Thực dân Pháp mở chiến dịch càn quét quy mô lớn mang mật danh
"Thủy Ngân" đánh vào vùng tự do và căn cứ du kích tỉnh Thái Bình,
nhằm tiêu diệt lực lượng chủ lực ta và củng cố tuyến phòng thủ Đồng bằng Bắc
Bộ. Quân Pháp huy động lực lượng cơ động tinh nhuệ cùng sự hỗ
trợ tối đa của không quân và pháo binh dội bom đạn dữ dội nhằm san phẳng làng
Dưỡng Thông — một mắt xích phòng ngự quan trọng của ta. Cán
bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48 (Trung đoàn Thăng Long, thuộc Đại đoàn 320 - Đại
đoàn Đồng Bằng) cùng lực lượng du kích địa phương đã kiên cường bám trụ công
sự, biến từng góc nhà, bờ tre thành trận địa đánh địch. Dưới mưa bom bão đạn,
quân và dân ta đã dũng cảm đánh bật 20 đợt tiến công dồn dập của địch, bẻ gãy
mũi tiến công sừng sỏ của quân Pháp tại địa bàn này.
Đồn
An Xá nằm ở vị trí quân sự quan trọng thuộc huyện Duyên Hà (tỉnh Thái Bình), do
thực dân Pháp đóng giữ nhằm khống chế vùng giải phóng và ngăn chặn các tuyến
vận tải, liên lạc của quân ta. Để chia lửa với chiến trường chính
Điện Biên Phủ, bộ đội địa phương cùng lực lượng du kích Thái Bình đã bao vây
đồn An Xá. Ta áp dụng chiến thuật vây lấn đào hệ thống giao thông hào áp sát
tận chân tường đồn địch để tạo bàn đạp xuất kích. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, không
quân Pháp đã điên cuồng trút hàng loạt bom Napan
(loại bom cháy tàn khốc) trực tiếp xuống các đường giao thông hào nhằm thiêu
rụi công sự, ngăn chặn các mũi tiến công và uy hiếp tinh thần bộ đội ta.
Kích
thước:
Súng
B40: 95cm x 18cm
Súng B40 số 3858, của đồng chí Nguyễn Xuân Yên, Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn
48.
16 giờ 30 phút ngày
18 tháng 3 năm 1975, sau khi nhận được mệnh lệnh tiến công của Bộ Tư lệnh Sư
đoàn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 Lê Quang Bình ra lệnh nổ súng, được pháo
binh chiến dịch chi viện. Tiểu đoàn 2 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đức Thắng chỉ
huy đánh thẳng vào sân bay. Ở mũi Đại đội 7 do Chính trị viên Nguyễn Xuân Thiều
và Đại đội phó Tục chỉ huy đánh thọc sâu vào khu sân bay, các đơn vị khác đánh
vòng ngoài, ngay từ phút đầu nhiều tên địch đã bị ta tiêu diệt. Hướng Tiểu đoàn
2 phát triển khá thuận lợi. Chiếm xong sân bay, Chính trị viên Thiều báo cáo với
chỉ huy Tiểu đoàn và xin tiếp tục phát triển. Tiểu đoàn đồng ý và quy định lại
ký, tín hiệu để liên lạc với các mũi, các hướng khi phát triển sâu vào thị xã. Ở
hướng Tiểu đoàn 1, cũng đã nhanh chóng chiếm xong bản Klung (Tây Bắc thị xã
Cheo Reo 2km), sau đó đánh chiếm ngã ba Cây Gạo trên Đường số 7, tiếp tục đánh
tràn qua các chốt địch, phát triển vào bên trong thị xã, đánh đến đâu địch bỏ
chạy tán loạn chỗ đó, chống cự yếu ớt.
Càng vào sâu trong thị
xã, các chiến sĩ Trung đoàn 48 mới thấy lực lượng địch đông đến mức không tưởng
tượng nổi. Các phân đội đã tiêu diệt và bắt hàng trăm tên, nhưng diệt bắt hết lớp
này thì lớp khác lại tràn đến. Đêm ập xuống. Tù binh mỗi lúc mỗi nhiều, đến nỗi
nếu cứ tiếp tục cử người đưa tù binh về sau sẽ không còn người để đột phá nữa.
Thấy tình hình như vậy, Trung đoàn trưởng ra lệnh:
Không giải tù binh về sau nữa, bắt được tên nào cứ trói chặt, nhốt vào một khu
nhà nào đó, chờ sáng giải quyết. Quá nửa đêm, hầu hết các phân đội báo về Sở chỉ
huy Trung đoàn là mình đang nằm trong thị xã, bốn bề đều có địch, nhưng phần lớn
mất chỉ huy và tinh thần rệu rã không còn sức chống cự. 8 giờ ngày 19 tháng 3,
Trung đoàn 48 làm chủ hoàn toàn Cheo Reo (sáng ngày 19 tháng 3 trên thực tế chỉ
là giải quyết những hậu quả của trận tiến công đêm).
Trong trận Cheo Reo ngày 19/3/1975, đồng
chí Nguyễn Xuân Yên đã sử dụng khẩu súng này bắn một phát diệt 1 xe tăng, bắn 1 chiếc khác; diệt và bắt 15 tên
địch. Trong đó, có một tên đồng
chí
đã dùng chính khẩu súng này đập chết địch khi đánh giáp lá cà.
Súng
AK: 87cm x 24cm
Khẩu súng AK
của đồng chí Phùng Văn Bến,
đồng chí đã dùng khẩu súng này bắn hạ
1 máy bay trực thăng tại
điểm cao 1015, tỉnh Kom Tum, ngày
27/3/1972.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (H67) huyện Sa Thầy,
tỉnh Kon Tum là địa bàn chiến lược trọng yếu. Từ những năm 1960, Mỹ xây dựng
nơi đây thành tuyến phòng thủ kiên cố phía Tây sông Pô Kô. Điểm cao 1049 - 1015
là hai vật cản tự nhiên phía Tây làm bức bình phong vô cùng quan trọng, tập
trung để bảo vệ Đắc Tô, Tân Cảnh, thị xã Kon Tum (và điểm chặn cuối cùng là cứ
điểm Pliekleng).
Mùa Xuân
- Hè năm 1972, tại điểm cao 1049 (Delta) địch đã đổ quân xuống đây, Tiểu đoàn dù 2 chiếm cả một số điểm cao
xung quanh 1049. Ngày 30/3/1972, Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên lệnh cho Sư
đoàn 320 dùng Trung đoàn BB52 vây ép tiến công địch trên cao điểm 1049 (Delta).
Ngày 3/4/1972, Trung đoàn BB52 đánh trận mở màn tiến công 1049, nhưng đã không
thành công.
Trước đó ngày 2/4/1972, địch dùng 46 lần chiếc trực
thăng đổ Tiểu đoàn 11 dù (Lữ dù 2) xuống một số điểm cao phía Nam 1015 (Charlie)
để sẵn sàng kết nối với 1049.Trước tình hình đó, ngày 8/4/1972, Bộ Tư lệnh mặt
trận Tây Nguyên giao cho Sư đoàn 320 dùng Trung đoàn BB64 bao vây tiêu diệt Tiểu
đoàn 11 vừa đổ xuống quanh khu vực 1015 (Charlie). Sau 3 ngày chiến đấu, Trung đoàn BB64 đã tiêu
diệt Tiểu đoàn 11/lữ dù 2, làm chủ điểm cao 1015. Chiến
thắng điểm cao 1015 (Charlie) là trận then chốt thứ nhất của chiến dịch Xuân Hè
1972, tiêu diệt gọn 1 Tiểu đoàn dù trên chiến trường Tây Nguyên, cổ vũ lớn đối
với cán bộ chiến sĩ.
Năm 1972, trong một lần đi trinh sát tại chân núi
Chư-Mom-Rây, phía Tây thị xã Kon Tum (Tây Nguyên), sau khi phân công các
mũi trinh sát, với vai trò chỉ huy, Phùng Văn Bến leo lên đài quan sát để tiếp tục
nắm bắt tình hình thì bất ngờ phát hiện có máy bay địch bay về
phía mục tiêu mà quân ta đã phát hiện trước đó.
Sau vài giây phán đoán, ông quyết định chĩa thẳng họng súng AK
vào mục tiêu. Sau 3 loạt đạn, chiếc máy bay Mỹ CH-47 đã bốc
cháy.
CH-47
là một trong những trực thăng nhanh nhất của quân đội Hoa Kỳ với tốc độ tối đa
lên tới khoảng 298km/h, bán kính hoạt động 370km, tầm bay cao nhất 6.500m với vận
tốc lên cao 995m/phút.
Kích
thước:
Cờ
giải phóng: 105cm x 75cm
Cờ
quyết thắng: 40cm x 60cm
LÁ CỜ GIẢI PHÓNG KÝ TÊN BẰNG MÁU CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TRUNG
ĐOÀN 48
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hưởng ứng
lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48 đã
thể hiện quyết tâm sẵn sàng nhận nhiệm vụ, lên đường chiến đấu chống đế quốc Mỹ
xâm lược, góp phần cùng quân và dân cả nước thực hiện sự nghiệp giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.
Lá cờ là biểu tượng sinh động về lòng yêu nước, tinh thần
cách mạng và ý chí quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48. Việc
ký tên bằng máu thể hiện lời thề sắt son, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc
lập, tự do của Tổ quốc; là hiện vật có giá trị giáo dục truyền thống sâu sắc
đối với các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay.
CỜ ĐƠN VỊ QUYẾT THẮNG NĂM 1967
Nhận
nhiệm vụ của Bộ Tổng Tham mưu giao, ngày 25 tháng 11 năm 1967 tại khu rừng Cúc
Phương (gần Mống Lá, Nho Quan, Ninh Bình) Sư đoàn 320 chính thức làm Lễ xuất
quân vào tham gia chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Trong không
khí trang nghiêm của buổi lễ, Sư đoàn vinh dự nhận lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của Bộ Quốc
phòng giao cho. Kể từ đây Sư đoàn chia tay chính quyền và nhân dân đồng bằng Bắc
Bộ, nơi Sư đoàn thành lập và chiến đấu trong suốt những năm kháng chiến chống
thực dân Pháp để lên đường tham gia chiến đấu chống quân Mỹ xâm lược, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Chỉ huy đội hình hành quân là đồng chí Tư lệnh phó
Sư đoàn Nguyễn Kim Tuấn và đồng chí Phó Chính ủy Sư đoàn Phí Triệu Hàm. Cuộc
hành quân ra trận được bắt đầu ngay sau buổi lễ xuất quân với một khí thế phơi
phới. Đi tới đâu, các chiến sĩ cũng được chứng kiến những tội ác tày trời của bọn
xâm lược, những gương chiến đấu quên mình, sự chịu đựng hy sinh vô cùng lớn lao
của nhân dân và các chiến sĩ trên tuyến lửa anh hùng. Cuộc hành quân lịch sử ấy
của Sư đoàn, không chỉ có ý nghĩa chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Bộ, mà
còn là cuộc học tập, một quá trình nhận thức thực tế để hiểu thêm cuộc chiến đấu
của dân tộc ta, nuôi dưỡng thêm ý chí và lòng căm thù, tạo thêm sức bật mới cho
ngày mai, khi Sư đoàn giáp mặt kẻ thù.
Kích
thước: 40cm x 45cm
Đang cập nhập...