TỔNG QUAN TỦ KÍNH SỐ 3

Hiện vật · Tủ kính số 3

TỦ KÍNH 3
FULL TỦ KÍNH 3

24. Áo dù

Kích thước: 73cm x 40cm

Nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954 và phối hợp với các lực lượng chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) cùng đơn vị nòng cốt là Trung đoàn 64 đã tiến hành trận chống càn Bản Kết tháng 1/1954

GIAI ĐOẠN 1: CHUẨN BỊ THẾ TRẬN VÀ PHỐI HỢP VỚI LỰC LƯỢNG ĐỊA PHƯƠNG

Vào đầu tháng 1 năm 1954, nhằm phá hoại công tác chuẩn bị hậu phương và tuyến hành quân của ta tiến về Điện Biên Phủ, quân Pháp huy động lực lượng mở các đợt càn quét lớn vào khu vực Bản Kết (Tây Bắc).

Trung đoàn 64 (thuộc Đại đoàn 320) nhận lệnh luồn sâu, áp sát địa bàn, chủ động phối hợp chặt chẽ với lực lượng du kích và nhân dân xã Bản Kết.

Đơn vị tiến hành trinh sát địa hình, xây dựng hệ thống công sự chốt giữ, giăng bẫy đánh địch, đồng thời giao nhiệm vụ cho từng tổ du kích (trong đó có du kích xã như anh Xuyên) bám sát các hướng tiến quân và các vùng thả dù tiếp tế của địch.

GIAI ĐOẠN 2: CHỦ ĐỘNG ĐÁNH ĐỊCH, PHÁ BỎ MẠNG LƯỚI CÀN QUÉT

Khi quân Pháp bắt đầu tiến quân càn quét vào Bản Kết, lực lượng bộ đội chủ lực Trung đoàn 64 phối hợp cùng du kích xã tổ chức phục kích, chốt chặn kiên cường. Ta liên tục bẻ gãy các đợt đợt xung phong, phân tán và làm suy yếu đội hình càn quét của địch.

Trước sức ép đánh chặn quyết liệt từ các chốt chiến đấu, quân Pháp rơi vào thế bị động, tổn thất lực lượng và phải gọi viện binh cùng dù tiếp tế đường không.

Nhân cơ hội địch thả dù quân trang, lương thực xuống khu vực giao tranh, các lực lượng du kích địa phương đã dũng cảm luồn lách qua làn đạn, cắt đứt đường tiếp tế của địch và thu giữ nhiều mảnh dù, nhu yếu phẩm. (Hiện vật Áo dù may từ mảnh dù do anh Xuyên du kích xã thu được chính là bằng chứng từ giai đoạn này).

GIAI ĐOẠN 3: PHẢN KÍCH TIÊU DIỆT ĐỊCH, GIỮ VỮNG ĐỊA BÀN VÀ PHÁ HOÀN TOÀN TRẬN CÀN

Sau khi làm tiêu hao sinh lực địch, Trung đoàn 64 cùng lực lượng địa phương chuyển sang thế tiến công phản kích, dồn ép quân Pháp rút chạy khỏi địa bàn Bản Kết.

Trận chống càn Bản Kết kết thúc thắng lợi trong tháng 1/1954. Lực lượng thuộc Đại đoàn 320 cùng quân dân địa phương đã bảo vệ an toàn cho căn cứ, giữ vững tuyến hành lang tiếp tế chiến lược, đồng thời góp phần tiêu hao sinh lực địch, làm thất bại âm mưu bình định - đánh phá hậu phương của quân Pháp trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức mở màn.

Áo dù may từ mảnh dù do anh Xuyên du kích xã thu được trong trận Bàn Kết tháng 1 năm 1945 của trung đoàn 64.

25. Khăn xếp

Kích thước : 28cm x 8cm

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp tại địa bàn Hà Đông, bốt giặc Phù Yên (thuộc thôn Phù Yên, xã Viên Nội, huyện Ứng Hòa) là một căn cứ quân sự quan trọng của địch nhằm khống chế vùng do ta kiểm soát. Để tổ chức đánh bốt, lực lượng trinh sát của Sư đoàn (Đại đoàn 320) cần tiến hành điều tra, nắm chắc tình hình bố phòng, quy luật hoạt động và sơ đồ bên trong căn cứ địch.

Đồng chí Dương Đình Khuất – người con quê hương Phù Yên – đã dũng cảm sử dụng chiếc khăn xếp này kết hợp với trang phục truyền thống để giả làm Lý trưởng (người đứng đầu làng xã thời phong kiến/thuộc Pháp). Với vỏ bọc hợp pháp này, đồng chí đã trực tiếp dẫn đường, bảo vệ và đưa lực lượng trinh sát của Sư đoàn tiếp cận, thâm nhập vào khu vực bốt giặc Phù Yên để điều tra tình hình mà không bị phát hiện.

Sáng ngày 17 tháng 10 năm 1951, một đại đội lính Âu - Phi rời đồn Phù Yên tiến về thôn Đồng Mít (xã Đồng Tâm) để lùng sục như thường lệ. Do ta giữ bí mật tốt, nên địch cứ tiến thẳng vào trận địa phục kích. Khi toàn đội hình địch lọt hẳn vào trận địa, quyền Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Vũ Giáp ra lệnh nổ súng. Bị đánh bất ngờ, quân địch rối loạn đội hình, phản ứng yếu ớt, đứa chết, đứa tuyệt vọng giơ tay xin hàng. Sau 30 phút chiến đấu, ta xóa sổ đại đội Âu - Phi, diệt và làm bị thương 44 tên, bắt 35 tên, thu toàn bộ vũ khí đạn dược, chỉ còn 10 tên liều chết chạy thoát về đồn Phù Yên. Trận đánh khiến bọn chỉ huy đồn hoang mang, không dám cho quân ra ứng cứu. Đây là chiến thắng mở đầu chiến thắng Thu Đông năm 1951 của Đại đoàn 320.

26. Mũ lá

Kích thước: 23cm x 25cm

Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, lực lượng quân chủ lực nói chung và Đại đoàn 320 nói riêng phải hoạt động trong điều kiện cơ sở vật chất, quân trang thiếu thốn nghiêm trọng. Tuyến hậu cần chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu trang bị cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên khắp các chiến trường.

Để bảo đảm sức khỏe trong sinh hoạt và đáp ứng yêu cầu tác chiến dài ngày dưới thời tiết khắc nghiệt (nắng nóng, mưa ngàn), bộ đội Sư đoàn đã tận dụng các nguyên liệu thiên nhiên tại địa bàn đóng quân để tự đan, chế tạo ra loại mũ lá.

Mũ lá không chỉ có tác dụng che nắng, che mưa hiệu quả trong quá trình di chuyển và trú quân, mà còn là vật dụng nguy trang vô cùng hữu hiệu. Màu sắc tự nhiên của lá giúp chiến sĩ dễ dàng hòa lẫn vào địa hình rừng núi, đồng bằng khi ngụy trang áp sát, thâm nhập hoặc phục kích tiêu diệt địch.


27. Chiếc khăn

Kích thước: 67cm x 67cm

Trong giai đoạn 1951 - 1954, Trung đoàn 52 cùng các đơn vị thuộc Đại đoàn 320 tham gia hàng loạt chiến dịch, trận đánh ác liệt tại địa bàn Đồng bằng Bắc Bộ và Tây Bắc. Điều kiện cứu chữa thương bệnh binh tại các trạm quân y dã chiến hết sức thiếu thốn, trang thiết bị và vật tư y tế khan hiếm cực kỳ.

Chiếc khăn che vết mổ là dụng cụ y tế thiết yếu được Đội Quân y Trung đoàn 52 sử dụng để che chắn, bảo vệ phẫu trường (vùng mổ) cho hàng trăm thương binh ngay tại các trạm phẫu thuật dã chiến tiền phương. Trong điều kiện vật tư y tế vô cùng thiếu thốn, chiếc khăn này đã được các chiến sĩ quân y Trung đoàn 52 giữ gìn cẩn thận, giặt sạch, luộc/sấy vô trùng liên tục để tái sử dụng xuyên suốt từ năm 1951 đến năm 1954, phục vụ cấp cứu và phẫu thuật cứu chữa cho biết bao cán bộ, chiến sĩ bị thương ngoài chiến trường.


28. Chiếc quần 

Kích thước: 86cm x72cm

Năm 1953, thực hiện chủ trương tác chiến ở vùng địch hậu Đồng bằng Bắc Bộ, Trung đoàn 48 thuộc Đại đoàn 320 tiến về địa bàn Yên Vĩ – Hà Nam để thực hiện các trận đánh càn, vây ép hệ thống đồn bốt của địch. Trong giai đoạn này, đời sống của nhân dân địa phương gặp muôn vàn khó khăn, cơ cực do sự bóc lột và đánh phá ác liệt của quân Pháp.

Thấu hiểu sự thiếu thốn, khó khăn của bà con nhân dân vùng địch hậu, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48 đã tự nguyện nhường, quyên góp hàng trăm chiếc quần, áo của mình để giúp đỡ nhân dân. Chiếc quần này là trang phục cá nhân của đồng chí Nguyễn Hòa - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, người chỉ huy đã nêu gương sáng khi trực tiếp nhường lại phần quân trang của mình cho nhân dân Yên Vĩ. Hành động của đồng chí Trung đoàn trưởng đã lan tỏa mạnh mẽ, khởi xướng phong trào quyên góp quân trang giúp dân trong toàn đơn vị.


29. Nắp hầm 

Kích thước: Đường kính 26cm

Thời kỳ sử dụng: Kháng chiến chống thực dân Pháp (1951 - 1954).

Trong những năm tháng chiến đấu ở vùng địch hậu (Hà Đông, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định...), địch liên tục lập đồn bốt và mở các đợt càn quét gắt gao. Hệ thống hầm bí mật ngay trong nhà, ngoài vườn của nhân dân là nơi trú ẩn an toàn cho các lực lượng trinh sát, cán bộ nằm vùng và chiến sĩ Đại đoàn 320. Nắp hầm được thiết kế chắc chắn, ngụy trang khéo léo với mặt đất/nền nhà để bảo vệ bí mật tuyệt đối.

 

30. Áo trấn thủ 

Kích thước: 50cm x 45cm

Sư đoàn 320 thành lập đầu năm 1951, là một trong những đơn vị chủ lực nòng cốt của Quân đội Nhân dân Việt Nam thời bấy giờ. Sư đoàn mang trọng trách bám trụ, chiến đấu trực tiếp tại vùng đồng bằng Bắc Bộ – nơi thực dân Pháp ra sức kìm kẹp. Cầu Gừng (thuộc địa phận huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ngày nay) là một trong những điểm nóng giao tranh vô cùng ác liệt. Tại Hà Nam, Trung đoàn 48 được lệnh phối hợp cùng với lực lượng vũ trang tỉnh Hà Nam bao vây, uy hiếp thị xã Phủ Lý. Đêm 7 rạng sáng ngày 8 tháng 4 năm 1954, Trung đoàn 48 sử dụng Tiểu đoàn 523 tiến hành vận động tập kích vào nơi trú quân của Tiểu đoàn 3 thuộc Binh đoàn cơ động số 4 trú quân ở cầu Gừng, cách thị xã Phủ Lý 2km về phía Nam. Kết quả, ta tiêu diệt gọn 2 đại đội địch, trong đó có tên đại úy Béc-tô chỉ huy Tiểu đoàn 3 và cơ quan chỉ huy của chúng. Tiếp đó, Trung đoàn 48 tiến công tiêu diệt 2 vị trí Khe Non, Kỳ Cầu (Liêm Sơn, Thanh Liêm). Trong làn mưa bom bão đạn tại cầu Gừng, đồng chí Lê Xuân Rằm cùng các chiến sĩ Sư đoàn 320 đã kiên cường chiến đấu đẩy lùi quân địch. Đồng chí đã anh dũng hy sinh, để lại chiếc áo trấn thủ.

Áo trấn thủ của đồng chí Lê Xuân Rằm đã hy sinh trong trận Cầu Gừng, gia đình đồng chí tặng lại cho Sư đoàn.


31. Túi đeo 

Kích thước: 28cm x 26cm

Sau chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, quân và dân ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố lực lượng và mở rộng địa bàn hoạt động. Trung đoàn 52 (Trung đoàn Tây Tiến) là đơn vị chủ lực đảm nhiệm tác chiến trên một địa bàn rộng lớn, địa hình rừng núi cực kỳ hiểm trở trải dài từ Tây Bắc, Hòa Bình, Thanh Hóa đến vùng Thượng Lào.

Trong điều kiện tác chiến di động liên tục, hành quân vượt qua hàng trăm cây số sông suối, đèo dốc và đối mặt với sự phục kích, càn quét của kẻ thù, việc giữ gìn và bảo mật an toàn tuyệt đối các bản đồ tác chiến, mật mã, mệnh lệnh quân sự và tài liệu Đảng là nhiệm vụ có tính chất sống còn đối với mỗi cán bộ Trung đoàn 52.

Chiếc túi đựng tài liệu luôn theo sát bên mình người cán bộ chỉ huy Trung đoàn 52 trong mọi cuộc họp gõ dã chiến, trên đường chiến dịch hay giữa lòng căn cứ. Đây là kỷ vật gắn liền với trí tuệ, tác phong sâu sát và tinh thần trách nhiệm cao độ của đội ngũ cán bộ quân đội thời kỳ đầu kháng chiến.


32. Cột nhà cháy

Kích thước: Dài 106cm

Vào năm 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn giằng co và quyết liệt. Để tháo gỡ thế bế tắc và triệt hạ các căn cứ du kích, thực dân Pháp liên tục mở các cuộc càn quét quy mô lớn nhằm củng cố vùng chiếm đóng, phá hoại tiềm lực kinh tế và chia rẽ lực lượng kháng chiến với nhân dân địa phương. Tại địa bàn thôn Dưỡng Thông, lực lượng dân quân du kích phối hợp cùng bộ đội địa phương đã chủ động xây dựng thế trận làng kháng chiến. Nhờ dựa vào địa hình hiểm trở, hệ thống hầm bí mật và sự bao bọc, tiếp tế của quần chúng nhân dân, quân và dân làng Dưỡng Thông đã tổ chức gài bẫy, phục kích và đánh trả các mũi càn quét của quân Pháp. Trận đánh đã khiến quân Pháp rơi vào thế bị động, chịu tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, buộc phải tháo chạy và làm phá sản hoàn toàn mưu đồ chiếm đóng, bình định địa bàn này.

Sau thất bại nặng nề trên mặt trận bộ binh, bộ chỉ huy quân Pháp đã trả đũa bằng hành động cuồng sát vô nhân đạo. Chúng huy động không quân dội bom và thả hỏa lực xuống các khu dân cư. Trận không kích đã thiêu rụi hoàn toàn xóm 3 và xóm 4 thuộc thôn Dưỡng Thông, biến hàng loạt ngôi nhà bình yên thành tro tàn nhằm xóa sổ căn cứ trú ẩn của du kích và uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân.

Bề mặt hiện vật bị than hóa sâu, để lại những vết sẹo loang lổ – bằng chứng vật thể trực tiếp về sức tàn phá dữ dội của bom đạn chiến tranh. Mặc dù làng mạc bị tàn phá nặng nề, nhân dân Dưỡng Thông vẫn kiên cường bám đất, bám làng, duy trì phong trào du kích đến ngày thắng lợi chung của dân tộc.

33. Dây thông tin 

Kích thước: 28cm x 16cm

Đầu năm 1951, cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta bước vào giai đoạn mới, Quân đội nhân dân Việt Nam bước sang giai đoạn tác chiến tập trung quy mô lớn. Việc thành lập các Đại đoàn 320 đánh dấu bước ngoặt trưởng thành vượt bậc về tổ chức, lực lượng và nghệ thuật quân sự của quân đội ta.

Trong tác chiến quy mô sư đoàn trên các chiến trường rừng núi hiểm trở, công tác thông tin liên lạc vô tuyến và hữu tuyến đóng vai trò then chốt, quyết định sự sống còn của trận đánh. Cuộn dây ăng-ten là khí tài trực tiếp giúp bảo đảm mạng lưới liên lạc thông suốt từ Bộ Tư lệnh Sư đoàn xuống các trung đoàn, tiểu đoàn và lực lượng hỏa lực.

Từ ngày đầu thành lập Sư đoàn vào tháng 1/1951, lực lượng thông tin đã mang vác cuộn dây ăng-ten này qua khắp các mặt trận gian khổ. Chiến sĩ thông tin phải dũng cảm vượt qua mưa bom, đạn pháo, giăng dây, dựng ăng-ten trên các đỉnh núi cao để giữ vững dòng chảy thông tin chỉ huy, góp phần làm nên những chiến công vang dội của Sư đoàn trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Hiện vật có tuổi đời gắn liền với ngày thành lập Sư đoàn, là bằng chứng vật thể sống động theo chân cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn trong suốt giai đoạn chống Pháp gian khổ.

34. Ống tre 

Kích thước: Cao 17cm, đường kính 8,5cm

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), cùng với việc tác chiến trên các chiến trường địa hình chia cắt, rừng núi hiểm trở, công tác hậu cần và nuôi quân luôn gặp muôn vàn thiếu sót, gian khổ. Khí hậu nhiệt đới ẩm ướt khiến thực phẩm tươi sống rất mau hỏng, trong khi đường vận tải hậu cần từ hậu phương ra tiền tuyến chủ yếu là sức người gánh gồng, dâng tải.

Để bảo đảm sức khỏe và duy trì sức chiến đấu cho bộ đội trong những đợt hành quân trường kỳ hàng trăm kilômet hoặc những chiến dịch dài ngày, chiến sĩ ta đã phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, vượt khó sáng tạo. Thực phẩm được chế biến dưới dạng khô hoặc ướp mặn (thịt chưng muối, thịt muối đậm) để giữ được lâu ngày. Tre là vật liệu sẵn có trong tự nhiên khắp các vùng chiến khu. Việc tận dụng các đốt tre già làm ống đựng muối thịt giúp chống ẩm mốc, ngăn côn trùng, chống thấm nước khi lội sông vượt suối và vô cùng nhẹ gọn, tiện lợi khi mang vác trên ba lô của người lính.

35. Cổ võng đay 

Kích thước: 21cm x 8cm

Chiến dịch Quang Trung (Tháng 5 – Tháng 6/1951): Còn gọi là Chiến dịch Hà - Nam - Ninh là một trong ba chiến dịch tiến công lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ năm 1951. Mục tiêu của chiến dịch nhằm tiêu hao sinh lực địch, đánh phá kế hoạch củng cố vùng chiếm đóng của thực dân Pháp và phát triển chiến tranh du kích ở địa bàn chiến lược này.

Trong suốt chiến dịch, nhân dân vùng tự do và vùng bị địch tạm chiếm tại Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình đã dốc hết sức người, sức của phục vụ bộ đội tác chiến. Nhân dân xã Đoan Vỹ (tỉnh Hà Nam) đã tích cực tham gia lực lượng dân công hỏa tuyến, không quản ngại hiểm nguy, trực tiếp phục vụ chiến đấu ngay tại các vùng trọng điểm lửa đạn.

Trong điều kiện trang thiết bị y tế và phương tiện vận chuyển thương binh còn rất thiếu thốn, bà con xã Đoan Vỹ đã chủ động quyên góp những chiếc võng đay giản dị – vật dụng sinh hoạt quen thuộc của gia đình mình – để làm cáng vận chuyển. Dưới mưa bom đạn pháo của kẻ thù, những chiếc võng đay này đã nâng niu, vận chuyển an toàn hàng trăm thương binh của Sư đoàn từ trận địa về tuyến sau điều trị.

36. Khăn mùi xoa 

Kích thước: 35cm x 35cm

Vào cuối năm 1953, nhằm đập tan cuộc càn quét Hải Âu (Mouette) của thực dân Pháp và mở rộng vùng tự do, các lực lượng chủ lực của Sư đoàn đã liên tục mở các đợt tiến công và phản công quyết liệt trên địa bàn khu vực Tây Nam tỉnh Ninh Bình. Đây là vùng giáp ranh chiến lược giữa vùng tự do Thanh Hóa và khu vực bị địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ.

Đúng vào dịp kỷ niệm 7 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/1953), phong trào thi đua "Diệt địch lập công" diễn ra vô cùng sôi nổi trên toàn mặt trận. Các chiến sĩ Sư đoàn đã mưu trí, dũng cảm chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt càn quét, tiêu hao lớn sinh lực địch và giành những chiến thắng vang dội tại khu vực Tây Nam Ninh Bình.

Để động viên kịp thời tinh thần các chiến sĩ lập nhiều chiến công xuất sắc, Đội Thiếu niên Tiền phong và thiếu nhi Việt Nam ở hậu phương đã tự tay thêu, vẽ những chiếc khăn mùi xoa mang dòng chữ nghĩa tình gửi tặng ra mặt trận. Dù nhỏ bé và giản dị, chiếc khăn là món quà tinh thần vô giá, kết tinh niềm tin yêu, sự tự hào và lời gửi gắm của thế hệ măng non đối với các anh bộ đội Cụ Hồ.

37. Lưỡi xẻng 

Kích thước: 27cm x 16cm

Vào năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn tác chiến quy mô lớn với nhiều trận công kiên tiêu diệt các cứ điểm kiên cố của địch. Để pháo binh phát huy tối đa uy lực hỏa lực, đồng thời bảo đảm an toàn cho lực lượng và khí tài trước phản pháo cũng như không quân địch, công tác đào hầm, đắp ụ công sự pháo là nhiệm vụ có tính chất sinh tử, quyết định thắng lợi của trận đánh.

Năm 1953, các đơn vị pháo binh, trong đó có Tiểu đoàn 834 , đã liên tục tham gia chiến đấu trong các đợt tiến công tiêu diệt vị trí địch ở khu vực Yên Vỹ, Kinh Thanh (thuộc tỉnh Hà Đông cũ) và huyện Ý Yên (tỉnh Nam Định). Đây là những trọng điểm diễn ra các trận đánh ác liệt nhằm bẻ gãy hệ thống phòng ngự và càn quét của quân Pháp tại vùng châu thổ Bắc Bộ.

Trong điều kiện cơ giới hóa còn rất hạn chế, từng khẩu pháo nặng hàng tấn phải nhích từng mét vào vị trí chiếm lĩnh trận địa dưới tầm pháo địch. Các chiến sĩ pháo thủ thuộc Tiểu đội 1, Đại đội 3, Tiểu đoàn 834 đã phải thầm lặng thức trắng nhiều đêm, sử dụng những chiếc xẻng cá nhân để đào đắp hàng chục khối đất đá, dựng nên những ụ pháo kiên cố trước giờ nổ súng. Là vật chứng lịch sử sinh động giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về nghệ thuật xây dựng trận địa công sự và tinh thần kiên cường của các thế hệ cha anh trong kháng chiến chống Pháp.

38. Cuộn dây điện thoại 

Kích thước: 30cm x 20cm

Mặt trận Đường 10 và các trận đánh tại Thái Bình (1952): Đường 10 là tuyến đường giao thông huyết mạch nối liền Hải Phòng – Thái Bình – Nam Định, có vị trí chiến lược quân sự quan trọng đối với thực dân Pháp tại đồng bằng Bắc Bộ. Năm 1952, để đập tan các đợt càn quét, bình định của địch và mở rộng vùng du kích, các lực lượng ta đã đẩy mạnh tác chiến trên tuyến Đường 10, liên tục tiến công, tiêu diệt các đồn bốt và vị trí phòng ngự kiên cố của địch, tiêu biểu như trận diệt đồn La Cao, Chợ Cống (Thái Bình).

Trong điều kiện tác chiến tại vùng đồng bằng với hệ thống đồn bốt địch dày đặc, thông tin hữu tuyến (điện thoại dây nói) là phương tiện liên lạc chỉ huy trực tiếp, tin cậy và có tính bảo mật cao nhất Sở chỉ huy chiến dịch với các hướng tiến công.

Để bảo đảm "mạch máu" thông tin luôn thông suốt trong suốt các trận đánh La Cao, Chợ Cống, các chiến sĩ thông tin đã phải dũng cảm vác khung quấn dây, rẽ nước băng qua đồng bãi, leo qua hàng rào đạn pháo của địch để rải dây, nối dây kịp thời. Sau mỗi trận đánh, cuộn dây lại được thu hồi cẩn thận để tiếp tục phục vụ trên các chiến trường tiếp theo.

39. Áo nâu 

Kích thước: 60cm x 46cm

Miền Bắc sau ngày hòa bình lập lại (1954 – 1955): Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, miền Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng, bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế và củng cố hậu phương. Tuy nhiên, cùng với những khó khăn sau chiến tranh, miền Bắc phải liên tiếp đối mặt với thiên tai bão lũ nghiêm trọng, đặc biệt là đợt lũ lụt lớn năm 1955 đe dọa trực tiếp đến đời sống, tài sản và sản xuất của nhân dân vùng ven biển Hải Phòng.

Thực hiện đường lối của Đảng và Bác Hồ về chức năng của quân đội vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác, các đơn vị chủ lực gồm Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 đã lập tức có mặt tại các địa bàn trọng điểm lũ lụt là Kiến Thụy và Đồ Sơn.

Không quản ngại hiểm nguy và vất vả, các chiến sĩ Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 đã dầm mình trong dòng nước lũ, thức trắng nhiều đêm đắp đê ngăn mặn, cứu hộ nhân dân, dựng lại nhà cửa và khôi phục sản xuất. Chiếc nâu của người lính đã trở nên thân thuộc, gắn liền với hình ảnh xả thân vì dân trong những ngày tháng hoạn nạn.

40. Lưỡi mai 

Kích thước: 30cm x 12cm

Đêm ngày 9 tháng 12 năm 1951, đợt hoạt động phối hợp với mặt trận chính diện Hòa Bình chính thức bắt đầu. Mục tiêu tiến công đầu tiên là Phát Diệm nhằm tạo thế bất ngờ, cổ vũ các hoạt động kháng chiến của đồng bào giáo - lương trong vùng địch hậu. Trung đoàn 48 tiến công vào thị trấn Phát Diệm và Trung đoàn 52 phục kích địch ở khu vực Yên Ninh ngăn chặn viện binh của chúng từ Phước Nhạc xuống. Trung đoàn 64 có nhiệm vụ tiến vào hoạt động sau lưng địch ở Hà Nam.

Thị trấn Phát Diệm là khu căn cứ nằm sâu trong hậu phương của địch. Ở đây dân cư khá đông đúc, các vị trí địch đóng xen kẽ với nhà dân gây nhiều khó khăn cho hoạt động tác chiến của ta. Lực lượng địch ở đây ngoài lính Âu - Phi còn có nhiều ngụy binh, vệ sĩ là người địa phương nên rất thông thạo địa hình, chúng luôn cải trang lẩn trốn trong nhà dân, ta khó phát hiện.

Đúng 3 giờ sáng ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 được lệnh nổ súng tiến công Phát Diệm - căn cứ trung tâm của bọn phản động đầu sỏ đội lốt thầy tu. Trời sáng dần, do vừa đánh vừa bảo vệ dân, trên các mũi tiến công, ta và địch giằng co quyết liệt nhưng đến buổi chiều ta đã hoàn toàn làm chủ Phát Diệm.

Sau gần một ngày chiến đấu, Trung đoàn 48 có sự phối hợp của lực lượng du kích tại chỗ đã san phẳng 10 vị trí, diệt và bắt sống 875 tên, thu 186 súng và phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh khác của địch, giải phóng Phát Diệm.
Để đập tan hệ thống đồn bốt, bẻ gãy các đợt phản công của địch và bảo vệ cơ sở kháng chiến, nhiều cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn và lực lượng địa phương đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, anh dũng hy sinh trên chiến trường Phát Diệm.

Giữa vùng đạn pháo khốc liệt, nhân dân địa phương – tiêu biểu như ông Trần Văn Phương – đã không quản ngại nguy hiểm đến tính mạng, chủ động mang các dụng cụ lao động giản dị của gia đình ra mặt trận để tìm kiếm, thu gom và chôn cất thi hài các tử sĩ, liệt sĩ một cách chu đáo, trọn vẹn đạo lý dân tộc.

41. Bát sọ dừa 

Kích thước: Cao 6cm, đường kính 13cm

Trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ, lực lượng vũ trang ta phải tác chiến trong điều kiện hậu phương còn nhiều khó khăn, nguồn cung cấp quân trang, quân dụng và đồ dùng sinh hoạt cá nhân vô cùng hạn chế. Bộ đội ta thường xuyên phải di chuyển, đóng quân ở những vùng chiến khu hay địa bàn rừng núi, đồng bằng thiếu thốn đủ bề.

Trước hoàn cảnh thiếu thốn trang thiết bị sinh hoạt tối thiểu như bát, đĩa, cốc uống nước, cán bộ, chiến sĩ ta đã phát huy cao độ tinh thần tự lực cánh sinh, vượt khó sáng tạo. Bất kỳ vật liệu tự nhiên nào sẵn có như măng tre, ống nứa, sọ dừa... đều được người lính khéo léo đẽo gọt, chế tác thành những vật dụng sinh hoạt hàng ngày. Chiếc bát bằng sọ dừa tuy giản dị, thô sơ nhưng thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng, ý chí kiên cường chịu đựng gian khổ của các chiến sĩ.

42. Dao găm 

Kích thước: Dài 34cm

Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh Liên khu 3, Đại đoàn quyết định sử dụng Tiểu đoàn 523 Trung đoàn 48 đánh chiếm cứ điểm Vân Chu. và Tiểu đoàn 722 Trung đoàn 64 tiến công tiêu diệt cứ điểm Đục Khê, đây 2 cứ điểm quan trọng của địch trên phòng tuyến sông Đáy, mở màn đợt hoạt động Xuân Hè của toàn Đại đoàn.

Tiểu đoàn 523 nổ súng tiến công cứ điểm Vân Chu - một vị trí nằm kề thị xã Phủ Lý (Hà Nam) được xây dựng kiên cố bằng hệ thống lô cốt boong-ke với 10 lớp hàng rào dây thép gai bảo vệ. Sau 40 phút chiến đấu, ta làm chủ đồn, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch.

Trong cuộc giáp lá và giao tranh giằng co giữa ta và địch, chiến sĩ thuộc Đại đội 83 đã thể hiện tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và hy sinh anh dũng ngay tại mặt trận Vân Chu.

43. Mũi giáo 

Kích thước: Dài 34cm

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Thái Bình là địa bàn có phong trào chiến tranh du kích phát triển vô cùng mạnh mẽ ở đồng bằng Bắc Bộ. Lực lượng du kích cùng nhân dân địa phương đã biến từng làng xã thành những pháo đài kiên cố, liên tục tổ chức phục kích và tiêu hao sinh lực địch.

Trong điều kiện vũ khí, đạn dược hiện đại còn rất thiếu thốn, lực lượng du kích địa phương đã phát huy tinh thần tự lực tự cường, tự rèn đúc các loại vũ khí thô sơ nhưng có tính sát thương cao như giáo búp đa, mã tấu, gậy tầm vông... để đánh địch bảo vệ xóm làng.

Tại địa bàn Văn Bàn (thuộc xã Thái Hợp, tỉnh Thái Bình), lực lượng du kích địa phương đã chủ động phối hợp sát cánh cùng các đơn vị chủ lực của Sư đoàn. Sự kết hợp giữa bộ đội chủ lực và du kích địa phương đã tạo nên thế trận liên hoàn, bẻ gãy nhiều đợt càn quét, củng cố vững chắc vùng tự do và căn cứ du kích.

44. Súng Côl xoay: (Súng lục bát) 

Kích thước: 27cm x 14cm

Vào năm 1952, phong trào du kích và các đợt tiến công của quân và dân ta ở đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Thái Bình, diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Các đợt càn quét, chiếm đóng của quân đội thực dân Pháp liên tục bị bẻ gãy, đẩy địch vào thế hoảng loạn, bị động và tổn thất nặng nề.

Trong một trận giao tranh tại địa bàn thôn Nha Xuyên, xã Thái Phúc, trước sức tiến công dồn dập của bộ đội chủ lực phối hợp cùng lực lượng du kích địa phương, quân Pháp rơi vào thế vỡ trận. Trong lúc tháo chạy, binh lính Pháp đã vứt bỏ lại nhiều vũ khí, trang bị xuống các ao, hồ, sông rạch xung quanh làng xóm nhằm phi tang và giảm tải trọng để thoát thân.

Sau khi trận đánh kết thúc, với tinh thần cảnh giác và hăng hái của tuổi trẻ, em Nguyễn Văn Thành – một thiếu niên tại thôn Nha Xuyên – đã chủ động rà soát, mò tìm dưới góc ao làng và thu gom được chiếc súng lục bát do sĩ quan/binh lính Pháp văng bỏ, giao lại cho cách mạng.

45. Áo lượng khăn xếp 

Kích thước: Nặng 0,4kg

Vào cuối năm 1951, thực dân Pháp tăng cường đồn bốt và siết chặt kiểm soát tại các địa bàn chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ, trong đó khu vực Phát Diệm (Ninh Bình) được địch xây dựng thành hệ thống phòng thủ kiên cố nhằm khống chế các tuyến giao thông và vùng phụ cận.

Để chuẩn bị cho trận tiến công tiêu diệt đồn Phát Diệm, công tác điều nghiên trận địa có ý nghĩa quyết định thắng lợi. Lực lượng trinh sát của Sư đoàn phải tìm cách lọt qua nhiều tầng nấc kiểm soát gắt gao của địch để tiếp cận, nắm chắc sơ đồ phòng thủ, quy luật hoạt động và bố trí hỏa lực của quân Pháp.

Trước yêu cầu bảo mật sinh tử, cụ Trần Văn Nhạc – một người dân giàu lòng yêu nước tại địa phương – đã không quản ngại nguy hiểm đến tính mạng, giao bộ áo lượng khăn xếp (trang phục truyền thống tươm tất của người dân thời bấy giờ) cho các chiến sĩ trinh sát. Bộ trang phục đã giúp các chiến sĩ cải trang thành dân thường đi lại hợp pháp, lọt qua mắt xích gác đồn của địch để thu thập thông tin tình báo chính xác, góp phần làm nên thắng lợi của trận tiêu diệt đồn Phát Diệm